..:: Tin nóng:    
Tất cả các tin
Tin tức sự kiện
 » Video - Ảnh
Lịch sử dòng họ
Chắp Nối Cội Nguồn
Danh Nhân Họ Đặng
Truyền thống dòng họ
Khuyến Học
Trang Thơ
Thư Bạn đọc
Thông Tin Hữu Ích

Newsletter
Tên bạn:
Địa chỉ email:
Chấp nhận

Video - Ảnh

 
Tin tức sự kiện 
BÀI CỦA TIẾN SĨ ĐINH CÔNG VĨ
Thứ bảy, 09.16.2017, 02:29pm (GMT)

DÒNG HỌ GẮN VỚI DÂN TỘC VIỆT

LỊCH TRÌNH TỪ HÙNG VƯƠNG VỀ SAU

T.S Đinh Công Vĩ

Nhiều tế bào xã hội (gia đình) cùng chung một ông tổ, bà tổ và tổ quán; gắn với nhau theo qui luật hôn nhân và di truyền, mang tính huyết thống mà thành dòng họ (tông tộc). Nhiều dòng họ gắn với nhau thành Tổ quốc, thành dân tộc, thành quốc gia. Theo Nguyễn Tuấn Anh: "Dòng họ trong cộng đồng làng xã hiện nay": Dòng họ còn là "một hiện tượng lịch sử xã hội có tính chất phổ quát toàn nhân loại và liên thời đại". Dòng họ tồn tại qua mọi lúc, mọi chỗ đúng với chữ “thời” mà kinh Dịch đã trình bày. Cho nên, dòng họ là bất tử trong khi đảng phái, nhóm lợi ích, chính quyền không thể trường tồn mãi. Theo Hà Văn Thùy: “Lịch sử dòng họ trong lịch sử dân tộc: "Dòng họ là rường cột của quốc gia": "Hai trăm dòng họ lớn làm nên vóc dáng nước Mỹ, bốn họ Khổng, Tưởng, Tống, Trần là trụ cột của Trung Hoa" (ta hiểu thời Trung Hoa dân quốc – Đinh Công Vĩ chú). Việt Nam cũng có những dòng họ như Ngô Thì, Nguyễn Tiên Điền, Phan Huy, Cao Xuân… làm nên dân tộc văn hiến. Theo Giáo sư TS Phan Hữu Dật, trong sách: "Họ Phan trong quốc gia dân tộc Việt Nam": "Nghiên cứu dòng họ giúp to hiểu biết nguồn gốc, quá trình phát triển quốc gia dân tộc". Trong bộ “Phan Thế gia phả”, ông viết: “Văn hóa dòng họ là một bộ phận hữu cơ thậm chí là cốt lõi của văn hóa dân tộc”. Nhiều dòng họ là một lực lượng to lớn đã cùng với nhà nước cải tạo và điều hành xã hội. Dòng họ rất nhiều, rất lớn như thế nên rất khó điều tra. Người điều tra lại mang theo nhiều quan niệm khác nhau, mục đích khác nhau nên đã đưa ra nhiều số lượng khác nhau: Nguyễn Bình Lộc cho là Việt Nam có 147 họ, Dã Lan nêu: Việt Nam có 300 họ. Trong bài: "Nghiên cứu các dòng họ - cơ sở khoa học và phương pháp giải quyết các vấn đề đặt ra"; Giáo sư Phan Văn Các cho rằng: “Thật ra cũng còn xa mới có thể có được một con số chuẩn xác”. Trong khi đó, ông lại đưa ra những con số khẳng định về số lượng dòng họ của nước ngoài khi tra bảng “Bách gia tính” của Trung Quốc thấy nước ấy có 926 họ, Hàn Quốc có 274 họ, nước Anh có 16 ngàn họ, Nhật có 100 ngàn họ. Sách “Bách gia tính” viết thời Bắc Tống (960-1127) nói tới họ của trăm nhà. Dịch sách này, ông Hoàng Nghĩa Lược cho biết: “Tôi muốn đem đến với độc giả một công trình khảo cứu về nguồn gốc khoảng 500 dòng họ của Trung Quốc. Phần lớn những tên họ này đều có ở Việt Nam”. Có phải thế chăng? Cuốn “Tính danh học Việt Nam” của nhà nghiên cứu Nguyễn Long Thao xuất bản năm 2004 đã công bố trên Internet được nhiều dòng họ quan tâm. Theo ông Thao ở Việt Nam có khoảng 1435 họ, trong đó, họ của 54 dân tộc Việt Nam có 1164 họ. Trong 54 dân tộc đó “sắc tộc Kinh (Việt)” có tới 449 họ thì nhóm thuộc “sắc tộc Trung Hoa ở nước ta” chỉ có 177 họ, ít hơn sắc tộc Kinh (Việt) nhiều, lại càng ít hơn 54 dân tộc trong đại gia đình Việt Nam cộng lại. Theo ông Thao : “Trong sắc tộc của người Kinh (Việt) có những họ giống như họ người Trung Hoa ở Việt Nam nhưng đó vẫn là người Việt Nam chứ tuyệt nhiên không phải người Trung Hoa”.

Về việc giống này, trong cuốn “Văn minh Đại Việt”, TS Nguyễn Duy Hinh đã giải thích: Người tiền Đại Việt gồm 5 thành phần:

- Người Việt học văn hóa Hán, làm quan cho chính quyền phương Bắc như Lý Tiến, Khương Công Phụ.

- Người Việt học văn hóa Hán nhưng lại nỗi dậy đòi độc lập chứ không làm quan cho kẻ thù như Phùng Hưng, Triệu Quang Phục.

- Người Hán do chính quyền Trung ương điều sang làm quan rồi Việt hóa hoàn toàn hoặc cắt cứ thành danh gia vọng tộc như Sĩ Nhiếp, Vũ Hồn.

- Dân thường người Hán di cư sang vì loạn lạc, rồi Việt Hóa nổi lên chống lại chính quyền như Lý Bí.

- Dân buôn người Ấn Độ đến lập nghiệp rồi lấy vợ như Khương Tăng Hội.

Năm thành phần này hòa lẫn vào nhau, khó phân biệt và trở thành người Đại Việt, càng ngày càng thuần Việt, càng khác hẳn với Trung Hoa.

Cũng phải lưu ý rằng: Hai dân tộc Việt - Hán ở sát nách nhau mà bọn cường quyền Hán luôn luôn có ý thức bá quyền, bành trướng nên vừa giao thoa, ảnh hưởng mọi mặt lại vừa đối đầu với nhau. Bọn chúng đã dùng mọi thủ đoạn xảo trá để đồng hóa dân tộc ta, trong đấy có việc bắt người Việt phải mang họ của người Hán để dễ bề cai trị. Như trên thấy: một số người Việt làm quan cho người Hán buộc phải thẹo họ người Hán nhưng vẫn là người Việt vì lòng yêu nhà, yêu dòng họ, yêu nước vẫn âm ỉ từ bên trong, vì thay đổi dòng họ Việt, tức thay đổi di truyền, huyết thống theo AND có dễ đâu? Vậy trước Bắc phương, Tây phương qua bao nhiêu lần quốc phá gia vong, bao nhiêu ảnh hưởng sâu đậm, nhất là kế sách “tằm ăn lá” của Hoa Hán, dòng họ Việt, dân tộc Việt dẫu có lúc hòa mà chưa hề tan “Năm nghìn năm ta vẫn là ta”.

Về truyền thuyết và hiện vật khảo cổ: Trong các dân tộc ở Việt Nam, người Mường gắn bó với người Kinh nhiều nhất, ngay từ truyền thuyết cha rồng mẹ tiên, khởi đầu của dòng họ, dân tộc. Truyền thuyết người Việt kể rằng: Cha rồng Lạc Long quân và mẹ tiên Âu Cơ chia đôi số 100 con, 50 con theo cha về biển (tức là về đồng bằng nơi có sông biển), 50 con theo mẹ lên núi (rừng), cử người con trưởng làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang, truyền được 18 đời đều là Hùng Vương. Sử thi “Đẻ đất đẻ nước” của người Mường cũng có truyền thuyết “trăm trứng”. 50 con về miền đồng bằng trở thành tổ tiên người Việt, 47 con đi lên miền núi thành tổ tiên của các dân tộc miền núi, còn 3 người sinh ra là những trứng đầu tiên gồm: Tá Cài, Tá Cần, Dạ Kịt. Anh cả là Tá Cài bị rắn cắn chết, các Mường tôn Tá Cần lên ngôi vua. Tá Cần lấy Bà Chu sinh được 18 người con: 9 con trai, 9 con gái. Họ sinh ra các dòng họ, trở thành thủ lĩnh, chia nhau đi coi giữ các bản Mường. Các truyền thuyết trên trở đi trở lại con số 18. Các sử sách cổ nước ta như "Việt Nam thế chí", "Đại Việt sử lược", "Đại Việt sử ký toàn thư" và cả Ngọc phả ở đền Hùng đều nhắc đến con số 18 đời Hùng Vương. Con số 18 ấy cũng ăn sâu vào phong tục dân gian cổ truyền: Vào cuối đời Hùng Vương thứ 6, nhà vua đã truyền ngôi cho con trai thứ 18 là Lang Liêu vì Lang Liêu trong ngày Tết đã dâng vua cha bánh trưng, bánh dầy ngon lành tượng trưng cho trời tròn, đất vuông (hay mẹ tròn con vuông). Trời đất đã sinh ra con người, sinh ra gia đình, dòng họ và đất nước. Từ đó, việc làm bánh trưng, bánh dầy thành phong tục ở mọi miền quê Việt Nam. Truyện ông Gióng cũng ở thời Hùng Vương thứ 6 ghi việc ông Gióng bảo sứ giả Hùng Vương về xin vua đúc ngựa sắt cao 18 thước để đi dẹp giặc Ân. Ngựa lớn thế phải chăng là 18 dòng họ chia nhau đúc? Nối tiếp Hùng Vương, Thục An Dương Vương cho xây thành Cổ Loa nhiều vòng mà vòng trong cùng của thành có 18 u hỏa hồi… Cả tín ngưỡng phồn thực dân gian nữa có tục rước nõn, nường ở nhiều địa phương vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ kéo theo 18 cái nõn và 18 cái nường tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở ra con người, dòng họ. Đặc biệt trống đồng Đông Sơn, đỉnh cao của văn minh Lạc Việt thời các vua Hùng, có in khắc hình ảnh chim Lạc? (Chim Âu? Hay con cò?) Đếm kỹ số chim bay trong các vành chim ở trống thì mỗi vành có đúng 18 con. Vậy con số 18 phải là con số đặc biệt trong đời sống tinh thần người Việt cổ. Thời Hùng Vương theo chính sử có trong khoảng 2879 TCN – 257TCN là 2622 năm, chia cho 18 đời vua Hùng thì mỗi vua sống trung bình trên dưới 145 năm, ở một thời hoang dã vất vả như thế có thể tin được không? Đại Việt sử lược lại nói: 18 đời Hùng Vương chỉ 400 năm nên mỗi đời vua chỉ sống 22 năm cũng khó tin. Phải chăng con số 18 là con số dòng họ thời ấy kết hợp với nhau trong liên minh bộ lạc Văn Lang, lấy tổ hợp các bộ lạc chim – rồng (theo quan niệm tô tem thời ấy) làm xương sống? Các trống đồng Ngọc Lũ, Khai Hóa, sông Đà lừng lẫy về tầm cổ, tầm to, về vẻ đẹp với con số 18 vật tổ không những minh chứng thời Hùng Vương là có thật, còn minh chứng nền văn minh Đông Sơn rực rỡ thời ấy là có thật. Gần đây được đọc kỹ hơn một trong những cuốn ngọc phả ở đền Hùng của Nguyễn Cố mới xác định rõ: Dòng Hùng gồm 18 ngành họ với 50 đời tồn tại 2500 năm nên trung bình mỗi vua sống được 50 năm hợp lý hơn chăng? Có con người sinh sôi nẩy nở ở thời văn minh ấy, làm sao lại không có dòng họ với đầy đủ mọi yếu tố mà trên đã bàn?

Về mặt chủng tộc: Ứng với dòng họ và chứng minh dòng họ nước ta về cơ bản là thuần Việt, chủng tộc chúng ta cũng vậy. Học giả Trần Trọng Kim trong “Việt Nam sử lược” nêu lại “Theo những nhà kê cứu của nước Pháp thì người Việt Nam và người Thái đều từ miền núi Tây Tạng. Có người Tầu và người Việt Nam lại nói rằng: Nguyên khi xưa ở đất Tầu có giống Tam Miêu ở, sau bị giống Hán tộc đánh đuổi để chiếm giữ lấy vùng sông Hoàng Hà, lập ra nước Tàu. Người Tam Miêu phải ẩn nấp vào rừng hay xuống ở miền Việt Nam ta bây giờ”. Ông phê phán: “Những ý kiến ấy chưa có gì làm chứng cho chính xác”. "Người Việt Nam trước có 2 ngón chân cái giao nhau nên gọi là "giao chỉ", mà xem các loài khác không có loài nào như vậy thì tất ta là một loài riêng, chứ không phải loài Tam Miêu". Học giả Nhượng Tống, dịch giả sách “Đại Việt sử ký toàn thư” (Ngoại kỷ) của nhóm Ngô Sĩ Liên cho rằng: “Dân Bách Việt chia ở hai miền: Miền núi và miền biển. Trong đám dân miền biển có nước Việt từng diệt nước Ngô thời Xuân Thu. Quốc gia thứ hai được tổ chức do dân miền núi là nước Nam Chiếu. Mạnh Hoạch người đánh nhau với Khổng Minh, chính là vị anh hùng nước này. Một quốc gia thứ ba nữa được thành lập, đó là nước Việt Nam chúng ta. Trong ba nước ấy, chỉ có nước ta còn đến ngày nay. Hai nước kia lần lượt bị nước Tàu chiếm lĩnh”. Xác thực cho ý kiến của Nhượng Tống về sự tồn tại của các nước trong Bách Việt gắn với thời đại Hùng Vương là ở chỗ cách đây chừng hai nghìn 450 năm (505-405TCN) ở thời Đông Sơn, Câu Tiễn nước Việt từng sai sứ sang dụ dỗ vua Hùng. Hùng Vương từ chối. Học giả Hà Văn Thùy trong bài “Lịch sử dòng họ trong dân tộc” cũng tán thành ý kiến trên ở chỗ cho rằng không phải con người nước ta từ Tây Tạng thâm nhập Trung Quốc rồi tỏa xuống Việt Nam. Hơn nữa khi qua nghiên cứu di truyền học của thế kỷ XXI, ông Thùy đã nêu lên “Cái nguồn gốc châu Phi của dân tộc ta”. Sau đó, 50 ngàn năm trước, từ thềm biển Đông tổ tiên ta lên cư trú tại miền Trung và trung du Bắc Bộ, rồi 40 ngàn năm trước từ miền đất đó Bắc tiến dần. Khoảng 25 đến 14 ngàn năm TCN có ngập lụt bán đảo Đông Nam Á, tổ tiên ta đã tới Quảng Đông, Phúc Kiến rồi chiếm toàn bộ Hoa Lục. Theo giáo sư Bác sĩ Trần Đại Sĩ ở bài “Thử tìm lại biên giới cổ Việt Nam bằng cổ sử, bằng triết học, bằng di tích và hệ thống AND” đã chứng minh rằng: “Trong 5000 năm trước Tây lịch cho đến nay, thì tộc Việt Nam gồm trăm giống Việt sống rải rác từ phía Nam sông Trường Giang, Đông tới biển, Tây tới Tứ Xuyên, Nam tới vịnh Thái Lan. Người Việt từ Ngô Việt điều xuống phương Nam, người Mân Việt di cư xuống Giao Chỉ. Người Việt di cư từ Nam sông Trường Giang tránh lạnh xuống Bắc Việt đều đúng. Đó là những cuộc di cư của tộc Việt trong lãnh thổ của họ như cuộc di cư từ Bắc vào Nam năm 1954, chứ không phải họ là người Trung Quốc di cư xuống Nam, lập ra nước Việt”. Khi người Việt Bắc tiến thì ở những vùng đất đó chưa có bóng dáng người Tàu. Sau này người Tàu mới Nam xâm. Trần Đại Sĩ khẳng định: “Chúng tôi dùng hệ thống AND, hệ thống sinh học mới nhất thử nghiệm ngay những người đang sống của 35 dòng họ tại Hoa Nam với Việt Nam rồi với những dòng họ khác tại Hoa Bắc, lại cũng thử nghiệm những bộ xương của ba vùng trên, không phân biệt thời gian. Cuối cùng, chúng tôi tìm ra sự khác biệt của những tộc Hoa Nam, Việt Nam với những tộc Hoa Bắc và đi tới kết luận lãnh thổ Văn Lang tới hồ Động Đình”. Ăn khớp với con số thời gian 5000 năm TTL (tức hơn bảy ngàn năm cách chúng ta) ở trên mà Trần Đại Sĩ từng nêu, GS Mạc Đường trong bài “Dòng họ Lạc Việt và quốc tổ Hùng Vương” đã dẫn ra “những điều tra thực địa về đầu sọ học của nhà nhân chủng học Mỹ Carleton E Coon tại nhóm ngôn ngữ Đông Nam Á- và Ấn Độ cũng đã khẳng định vùng Châu Á - Thái Bình Dương là nơi lai chủng của người Australia và người Mông Cổ phương Nam”… “Theo đó người tiền Lạc Việt… lai chủng đen + vàng … mà yếu tố vàng ngày càng vượt trội, yếu tố đen ngày càng lắng xuống thành những di vết nhân chủng (tóc quăn hay gợn sóng, môi dầy…). Trên cơ sở các ý kiến trên, đối chiếu với lịch sử ta thấy: Khoảng ba ngàn năm TCN (cách nay năm ngàn năm), trên nền tảng bách Việt, quốc gia đầu tiên của tổ tiên ta được thành lập từ lưu vực Hoàng Hà, Dương Tử kéo về nam tới Sông Hồng, sông Mã với mốc lịch sử chính xác 2879 TCN. Đó là nước Xích Quỉ do Kinh Dương Vương cầm đầu mà về sau ở thời các vua Hùng gọi là nước Văn Lang. Trải qua các thời kỳ: văn hóa Phùng Nguyên (lấy trung tâm là xã Kinh Kệ, huyện Phong Châu), văn hóa Đông Đậu (lấy trung tâm là xã Minh Tâm huyện Yên Lạc) và văn hóa Gò Mun (lấy trung tâm là xã Tứ Xã, huyện Phong Châu) mà đỉnh cao là văn hóa Đông Sơn (500 năm TTL) nhà nước của các dòng họ Việt đó ngày càng phát triển. Lúc này, người ta hay nhắc tới “bào tộc”. Theo tiếng Hy Lạp (GS Mạc Đường có nhắc tới) và cả tiếng Hán, Bào tộc là một bọc sinh ra. Bào tộc sinh ra Thị tộc. Thị tộc là tổng hợp của nhiều tế bào xã hội (gia đình) làm ta rõ hơn sự gắn bó giữa bào tộc với gia đình, cùng máu huyết. Tất cả phải trải qua các thời kỳ của hôn  nhân: loạn luân trong một dòng họ cùng chung huyết thống rồi hôn nhân đối ngẫu (nam thị tộc này với nữ thị tộc khác) tiến tới chế độ một vợ một chồng… Dòng họ ra đời trên cơ sở đó, từ chế độ mẫu hệ chuyển sang chế độ phụ hệ. Kinh thư, kinh dịch, nằm trong ngũ kinh, sách kinh điển của tổ tiên ta từng nói tới các dùng họ thời tiền sử như Bào Hi Thị, Thần Nông Thị, Hồng Bàng Thị..

Đối đầu với các vương triều hoàng tộc Trung Quốc thời tiền sử là thời Hồng Bàng thị (thời họ Hồng Bàng) ở nước ta. Theo ĐVSKTT của nhóm Ngô Sĩ Liên (sđd): Kỷ họ Hồng Bàng (thời Hùng Vương) đã có từ năm 2879 TCN (ngang hàng với thời Đế Nghi trong huyền sử Trung Quốc) đến thời Hùng Vương thứ 18 kết thúc vào năm 257 TCN ngang với Noãn Vương nhà Chu (còn kéo đến tận Hiếu Văn Vương đời họ Doanh nhà Tần) tổng cộng 2622 năm dài hơn cả Tam đại (các đời Hạ, Thương, Chu) của Trung Quốc cộng lại. Sách “Thuyết văn giải tự” ra đời năm 100 SCN (là sau thời Bà Trưng) có giải thích: “Nhân sinh dĩ vi tính, tòng nữ sinh” tức : người sinh ra có họ phải do nữ đẻ ra. Đó là giai đoạn đầu mà cả Trung Quốc, Việt Nam và nhiều dân tộc khác đều không tránh được (theo nghĩa chữ tính có Bộ nữ (  ) + bộ sinh (  ) = tính (   ). Con cháu gọi là “tử tính”, thứ dân gọi là “bách tính” (trăm họ) dùng kiểu chữ tính này. Nó chỉ nói chung chung chứ không chỉ họ, tên (kể cả đệm nếu có) cụ thể. Vậy thời mẫu hệ khó có tên họ cụ thể. Chỉ có vài trường hợp trong “Thuyết văn giải tự” đã viết bộ “nữ” như họ Khương (chú thích họ mà Thần Nông đẻ ra Khương Thủy). Đây là dòng họ của người Việt phương Nam (như chữ trên là ở thời mẫu hệ). Nhân vật của dòng họ đó cũng như một số nhân vật thần thoại khác liên quan đến nông nghiệp, vốn là của cư dân bản địa phương Nam bị sát nhập vào sách vở và truyền thuyết Hoa Hán. Đúng ra người Việt Nam là chủ nhân của nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước Hòa Bình, Bắc Sơn lẫy lừng mới đáng gắn với Thần Nông. Nó khác hẳn với nền văn minh du mục của Trung Hoa. Không phải ngẫu nhiên mà Thần Nông (ông tổ nghề nông) bao giờ cũng được coi là vị thần cai quản phương Nam. Thần Nông còn có tên khác là Viêm Đế (vua xứ nóng, gần với quẻ ly, với lửa, hợp với vùng đất viêm nhiệt nước ta). Niên đại truyền thuyết của Thần Nông vào thiên niên kỷ thứ IV TCN tương ứng với giai đoạn Đông Nam Á phát triển nghề nông. Theo truyền thuyết Việt Nam, Thần Nông là ông tổ 4 đời của Kinh Dương Vương, 5 đời của Lạc Long Quân và 6 đời của vua Hùng thứ nhất. Vậy Thần Nông thị (dòng họ Thần Nông – mẫu hệ) mở ra Hồng Bàng thị (dòng họ các vua Hùng). Dòng họ Hồng Bàng mở đầu từ năm 2879 TCN trải qua 181 năm đến năm 2698 TCN, sau sự xâm nhập của Hiên Viên thì lối sống du mục của Hoa Hán thống trị Nam Hoàng Hà đề cao thủ lĩnh trong bộ lạc đã dẫn tới nâng cao vai trò của nam giới, trước tiên là người cha mà có sự ra đời của chế độ phụ hệ. Sự ra đời của chế độ phụ hệ và chuyển tiếp từ mẫu hệ sang phụ hệ được thể hiện ngay trong truyền thuyết mà không người Việt nào có thể quên: 50 con theo dòng mẫu hệ (tức theo mẹ) Âu Cơ lên rừng núi và 50 con theo dòng phụ hệ (tức theo cha) Lạc Long Quân xuống biển. Sự phân chia này là theo sự đề đạt của người chồng, người cha là Lạc Long Quân chứ không phải là đề đạt của người vợ, người mẹ là Âu Cơ nên thể hiện phụ hệ nhiều hơn. Tuy chuyển sang phụ hệ nhưng dấu vết của thời Mẫu hệ còn đọng lại rất lâu trong tín ngưỡng thờ mẫu, trong tục tôn trọng quyền tham vấn của người cậu trong gia đình người Việt, trong các nghi lễ phồn thực, tín ngưỡng nõn nương, trong việc cưới chồng, đặt tên theo họ mẹ, tục cư trú ở bên nhà vợ sau khi cưới của các dân tộc Ê Đê, Chu Ru, Ba Na, Ra Rai. .. có khi còn tồn tại tới thời hiện đại ngày nay. Nó cũng có bước trung chuyển giao thời như: Quá trình từ mẫu hệ sang phụ hệ thì trong gia đình mẹ là người có quyền tối cao nhưng trong dòng họ và xã hội thì người cha là đại diện cho gia đình.

Dù mẫu hệ còn để lại dấu tích như trên, nhưng nhìn chung chế độ phụ hệ đã hình thành rất sớm ở thời Hùng Vương. Các vua Hùng đại diện cho dòng họ đất nước, tức quốc tộc đầu tiên ở Việt Nam đều là nam giới. Cơ quan quản lý cao nhất là nhà nước Văn Lang với cấu trúc hành chính gồm 15 bộ, đứng đầu là các tộc trưởng địa phương, đặt tướng Văn là Lạc Hầu,tướng võ là Lạc tướng, hoàng tử là Quan Lang, Công chúa là Mỵ Nương, các quan lại là Bồ Chính. Trừ công chúa ra, không thấy sử sách, truyền thuyết nào nói ai trong số quan chức, hoàng tộc trên là nữ.

Đối diện với Việt Nam là Trung Quốc: Chức “thị” là sản phẩm của chế độ phụ hệ. Theo Lý Lạc Nghị: “Tìm về cội nguồn chữ hán”: chữ Thị là Thị tộc. Văn tự chiến quốc cho thấy chữ thị giống chiếc gậy gỗ bên trên có hình tô tem rồng. Đó là tiêu chí dòng họ quý tộc như cha rồng (Lạc Long Quân) các ông vua ở thời phụ hệ về sau. Thời này, hôn nhân chặt chẽ hơn nên nhiều chi phái hơn, mỗi chi phái có thể phân hóa thành nhiều họ với ký hiệu riêng gọi là "thị". Đã là riêng, thì phải có đặc thù cụ thể không thể chung chung như "tính" được. Vậy tên họ cụ thể phải ra đời. Sách "Bạch hổ thông" cho biết: "Đặt ra "thị", lấy chức quan làm họ, lấy nghề làm họ". Đến đời Thương, đời Chu – tồn tại cùng với thời Hùng Vương nước ta – khanh đại phu có ấp phong thì lấy tên ấp phong làm họ, con cháu thì lấy đất ở làm họ hoặc lấy tên thụy của bố làm họ - hình thành một sơ đồ đẳng cấp. Ở thời Hùng vương xuất hiện hàng loạt anh hùng chống ngoại xâm, nổi bật nhất là "Thánh Gióng" mà đại đa số là nam giới. Thần phả để ở đình thôn Vĩnh Ninh, xã Vĩnh Quỳnh huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội nói tới cặp anh em trai sinh đôi là Bạch Xà và Thổ Địa (ông rắn và ông đất, gắn với nghề bắt rắn, nuôi rắn hay nghề làm đất nông nghiệp). Hai ông từng dẹp giặc Ma Lôi, giặc Xích Tỵ trước khi giặc Ân sang xâm lược nước ta vào thời Hùng Vương thứ 6. Ở thời sau: Thời Thục An Dương Vương (nối tiếp thời Hùng Vương) đã xuất hiện những nhân vật như Cao Nỗ (họ Cao chế tạo nỏ thần), Đào Nồi (họ Đào, có nghề làm nồi, sau được phong là Nồi hầu, lấy nghề nghiệp để phong tước, do có công đánh giặc ngoài). Qua đó, ta thấy: Ngay từ thời Hùng Vương, An Dương Vương, ở nước ta đã có dòng họ, tên họ, không phải đợi sau này, vào thời Bắc thuộc, nhà Hán (Tây Hán hay Đông Hán) vào xâm lược nước ta, do ảnh hưởng của ngoại bang, nước ta mới có dòng họ.

Cũng không thể lấy lý do: ở thời sau đó, vào những năm 40 đầu thế kỷ I SCN có khởi nghĩa của Bà Trưng, rồi 200 năm sau đó (năm 248 SCN), có khởi nghĩa của Bà Triệu, vị trí của người phụ nữ áp đảo mà cho đó vẫn thời mẫu hệ nên chưa có dòng họ ở nước ta. Thực ra, sau thời Hùng Vương, sau thời An Dương Vương và thời nước Nam Việt của họ Triệu, tuy bị nhà Hán thống trị ở bên trên nhưng ở bên dưới, các trang trại, làng xã nước ta vẫn do các Lạc tướng (như Lạc tướng Hùng Định, cha đẻ Hai Ba Trưng), Huyện lệnh (như huyện lệnh Chu Diên Thi Sách, chồng bà Trưng Trắc) hay các cừ súy (như cừ súy Đô Dương ở Thanh Hóa) là nam giới nắm giữ. Tất cả đều có dây rễ từ thời phụ hệ Hùng Vương. Ở các thời Bà Trưng, Bà Triệu, vị trí người phụ nữ vẫn rất lớn là do di lại từ thời mẫu hệ trước đó (trên đã nêu), phù hợp với không khí dân chủ, bình đẳng, là một truyền thống vốn có ở nước ta, không quá khắt khe như Hoa Hán phương Bắc. Thời các bà vẫn là thời phụ hệ còn vì: Mặc dù khởi nghĩa của Bà Trưng số nữ rất đông. Trần Đại Sĩ cho biết Bà Trưng có 162 tướng thì hơn 100 là nữ. Nhưng trong đó, vị trí của nam giới vẫn không thể phủ nhận. Sử sách, ngọc phả, thần phả... đã nói tới một minh chủ Thi Sách, một quân sư Đỗ Năng Tế là thầy dạy của Hai Bà Trưng, một tướng tài ba Hùng Nguyên chồng bà Trưng Nhị, một tướng nữa tên là Cai, chỉ huy mấy nghìn quân toàn là nam... và nhiều nam giới khác có tên họ, lập được nhiều công trạng trong khởi nghĩa Bà Trưng. Còn ở cuộc khởi nghĩa Bà Triệu, vị trí minh chủ của anh bà là Triệu Quốc Đạt càng không thể phủ nhận. Chỉ sau khi Quốc Đạt mắc bạo bệnh chết, quân chúng mới đôn Bà Triệu lên làm chủ súy thay anh. Sau vị trí số một của Bà Triệu, 4 tướng tâm phúc (đều là nam giới) của anh như Vương Thiện, Lãnh Long, Bào Thúc, Tôn Thận mà sử sách đã ca ngợi là "giỏi cung tên, có mưu lược, có sức khỏe vạn người không địch nổi" vẫn có vị trí xứng đáng.

Về cụ thể: Bản ngọc phả viết bằng chữ Hán trên giấy dó trắng dầy 13 trang còn giữ được ở miếu Thiên Cổ, thôn Hương Lan, xã Trưng Vương, thành phố Việt Trì (Phú Thọ) có nói tới thầy giáo Vũ Thế Long, cha mẹ vợ con của thầy đầu có họ tên đầy đủ. Từ câu chuyện ở Thiên Cổ miếu đã dẫn đến việc nhà giáo Đỗ Văn Xuyền đi tìm chữ Việt cổ. Ta chưa thể khẳng định rõ mức xác thực và tính khoa học của công trình đi tìm, đi nghiên cứu chữ Việt cổ của thầy Xuyền. Những ta phải thừa nhận rằng: Thầy Xuyền đã dầy công sưu tập trong các thư viện Hán Nôm, trong ngọc phả, thần phả ở đình, miếu, nhà thờ họ và qua các truyền thuyết dân gian mà đã phát hiện ra các bằng chứng về các thầy giáo danh tiếng và các học trò giỏi thời Hùng Vương, An Dương Vương, Bà Trưng ở nhiều tỉnh lưu vực sông Đà, sông Lô, sông Hồng, đến tận vùng Thanh Hóa, Nghệ An.

Bước đầu thầy Xuyền đã sưu tầm được 18 thầy giáo và rất nhiều học trò mà ngàn đời nay nhân dân các làng xã vẫn thờ phụng. Các vị đều có tên họ rõ ràng. Đó là bằng chứng về những tên họ gắn nền văn hóa rực rỡ không thể phủ nhận được trước Bắc thuộc.

Bản ngọc phả "Tam (ba) vị Đại Vương Thượng đẳng thần Tản Viên Sơn Thánh" giữ ở đền Và (Thị xã Sơn Tây) có kể về vợ chồng người anh là Nguyễn Cao Hanh và Đinh Thị Điên sinh ra con trai là Nguyễn Tuấn, vợ chồng người em là Nguyễn Ban và Tạ Thị Hoan sinh ra con là Sùng Công và Hiển Công. Các người con này đều theo họ cha (họ Nguyễn). Nguyễn Tuấn tức Tản Viên sơn thánh đứng đầu Tứ bất tử, là Nam thiên thánh tổ của trời Nam. Nguyễn Tuấn đã cùng Sùng Công, Hiển Công thành "Tạm vị Đại Vương" của vùng linh địa phía Tây thủ đô. Tất cả làm con nuôi Ma Thị Cao Sơn và cùng nhau giúp Hùng Vương thứ 18 đánh Thục. Các ngài đã thu nhận được 7 người họ Đinh, 6 người họ Bùi, 6 người họ Lê, 6 người họ Nguyễn, 3 người họ Hoàng, 3 người họ Trần, 2 người họ Phạm, 2 người họ Đỗ, 2 người họ Trương... Tổng cộng 40 người làm gia thần, theo ngọc phả, tất cả đã tỏ rõ là: Ngay từ thuở Hùng Vương đó các dòng họ ở nước ta đã khá phong phú.

Năm Giáp Thìn (257 TCN), dòng họ Thục ở phía Tây Bắc, vùng trung du Bắc bộ đã xóa bỏ quốc tộc Văn Lang, dựng nên quốc tộc Âu Lạc, xưng là An Dương Vương, đóng đô ở Cổ Loa, ngoại thành Hà Nội. Nước Âu Lạc tiếp tục là một nước đa dòng họ gồm sự kết hơp giữa 2 tập đoàn các dòng họ: Tập đoàn các dòng họ Tây Âu (tổ tiên của các dòng họ Tầy Nùng) + Tập đoàn các dòng họ Lạc Việt (tổ tiên của các dòng họ Việt + Mường + Môn Khơ Me). Sau đó ở vùng đất phía Đông Nam của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ngày nay, tức vùng Đông Bắc nước ta, trong địa vực của quốc gia các vua Hùng với các địa phương của người Việt gần Biển Đông như Nam Hải, Quế Lâm, Tượng Quận (nay thuộc tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Hải Nam đã bị chiếm) nổi lên Triệu Đà, con người kiệt xuất thuộc dòng họ Triệu, đã tách ra khỏi ảnh hưởng của Hán tộc. "Sử ký" của Tư Mã Thiên cho thấy: "Tần diệt lục quốc, đưa hơn triệu người Việt xuống Lĩnh Nam". Những di dân này (trong đó có những người Việt làm quan cho nhà Tần như Triệu Đà) liên tiếp trở về quê cũ phương nam mang theo những yếu tố tiến bộ ở phương Bắc do chính mình làm, trong đó có "tính" theo dòng mẹ và "thị" theo dòng cha, không hoàn toàn từ Tàu du nhập. Trên cơ sở Việt đó, Triệu Đà kiêm tính nước Âu Lạc. Từ đây, tổ tiên các dòng Tầy Nùng + Việt Mường + Môn Khơ Me đã hợp lực với tổ tiên các dòng họ Việt ở Đông Bắc nước ta để hùng cứ phương Nam, đối đầu với Hán tộc phương Bắc. Đúng như các dòng văn hào hùng mở đầu áng thiên cổ hùng văn "Bình Ngô đại cáo", Nguyễn Trãi đã viết về nước ta.

"Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần gây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương"

Việc Hai Bà Trưng chiếm lại 65 Thành Trì, thu hồi cõi Lĩnh Nam gồm toàn bộ vùng đất cũ của Vua Hùng từ Động Đình hồ về Nam chính là "thu lại giang sơn họ Hùng" là nối lại quốc thống từ vua Hùng về sau. Điều này hợp lý, vì đó là đất cũ của tổ tiên ta chứ không phải của Tàu và Hùng Định, cha Bà Trưng là dòng dõi Hùng Vương thứ 18. Theo bản "Lâu Thượng Thần tích ngọc phả cổ truyền" được lưu giữ tại đình ngoại xã Lâu Thượng (nay thuộc Việt Trì) thì Hùng Định ở đời thứ 24 thuộc chi trưởng cuối đời nhà Hùng. Việc nối lại các chi đó, cũng là để gìn giữ nền văn hóa dòng họ vốn đã rực rỡ từ thời vua Hùng. Không ai có thể quên được rằng: Gốc tên Hai Bà Trưng ở thời ấy: "Kén Chắc", "Kén Nhì" là gắn với một nền nông nghiệp trồng lúa nước, với những vườn dâu tơ tằm xanh ngát một màu, ghi lại dấu ấn thời đầu công nguyên hào hùng của dân tộc.

Từ sau Vua Hùng, từ sau các triều đại: An Dương Vương, Triệu Đà, Bà Trưng, các dòng họ Việt đó vẫn gắn bó, đổi thay, nổi chìm cùng các vương triều mà đại diện là vua, và nổi chìm cùng dân tộc để trường tồn tới ngày nay, gồm nhiều dẫn chứng: Nhà Trần lên cầm quyền đã buộc các vương hầu nhà Lý phải đổi sang họ Nguyễn với lý do Thượng hoàng tên húy là Lý. Nhà hậu Lê buộc người họ Trần vận chuyển thành họ Trình. Nhà Trịnh buộc họ Trần, học Mạc đổi sang họ Nguyễn... Thực chất các việc bắt chuyển họ tên của người đương quyền là để buộc những người thân cận của triều đại cũ không được nhớ đến triều đại đó. Vua Trần, người đại diện cao nhất của triều đại Đông A anh hùng cho đổi họ vì các sự kiện tương đồng: Năm Nhâm Ngọ (1282) vào mùa thu trên sông Hồng xuất hiện cá sấu, Nguyễn Thuyên viết bài văn đuổi cá sấu ném xuống sông thì nó đi. Trần Nhân Tông thấy việc này giống việc Hán Dũ đời Đường nên cho Nguyễn Thuyên đổi thành Hàn Thuyên.

Vua Trần cho đổi họ vì chuyên môn nghề nghiệp: Trần Duệ Tông thấy trạng nguyên Đào Hy Nhan giỏi sử nên đổi Đào Hy Nhan thành Sử Hy Nhan. Vua Trần cho đổi họ ít nghe thấy sang họ phổ thông hơn: Tháng 2 năm 1304 lấy Bùi Mộc Đạc làm chí hậu chánh trưởng coi cung Thánh từ. Mộc Đạc họ Phí có tài, thượng hoàng cho rằng họ Phí từ xưa ít người nói mới đổi làm họ Bùi.

Vua cho đổi họ khi ban quốc tính: Lý Cao Tông ban cho Phí Công Tín quốc tính thành Lý Công Tín, Đỗ Kính Tu là Lý Kính Tu. Sau khi dẹp xong giặc Minh, Lê Lợi ban quốc tính cho những người có công từ Hội thề Lũng Nhai, hoặc có công trong 10 năm chống Minh... Vua, giới cầm quyền đổi họ để kêu gọi người khác theo minh dễ hơn: Anh em nhà Tây Sơn đổi họ từ Hồ sang Nguyễn vì thế...

Cùng với đổi họ, còn có các công việc: Lê Huyền Tông (1662-1671) ra sắc lệnh cấm thần dân không được nhận họ người khác để hưởng lợi do có nhiều người mạo nhận là con cháu nhà Tôn Thất để nhận ruộng công. Hay có việc vua truất họ: Theo "Đại Việt sử ký tiền biên": Mùa đông tháng 10 năm Kỷ dậu (1309) trị tội bọn phản nghịch, vua Trần ra lệnh tước bỏ họ, chỉ ghi tên chúng... Còn có việc: Đổi họ để an toàn cá nhân, an toàn dòng tộc, tránh bị truy sát, dễ mai danh ẩn tích như: Vụ án tru di tam tộc Nguyễn Trãi xảy ra: Hậu duệ Nguyễn Trãi có người lên Cao Bằng đổi họ Nguyễn thành họ Bế, Nguyễn Anh Vũ con Nguyễn Trãi theo họ mẹ đổi thành họ Phạm. Vương triều Mạc thất bại trong cuộc chiến tranh Nam Bắc triều (Lê Trịnh Mạc) đã đổi thành rất nhiều họ để tránh bị vương triều thắng thế truy sát: Như đổi sang các họ: Bế, Bùi, Bùi Đăng, Bùi Đình, Bùi Thái, Bùi Trần, Cát, Chử, Đặng, Đoàn, Đỗ, Hoàng, Hoàng Đàm, Hoàng Đình, Hoàng Văn, Huỳnh, Hoa (Khoa), Hồ Đăng, Lê, Lê Đăng, Lều, Lều Vũ, Nông, Nguyễn, Nguyễn Công, Nguyễn Phương, Thái Đoãn, Vũ Như, Thái Văn...

Các dòng họ Việt Nam còn gắn bó cùng dòng họ có người lãnh đạo cao nhất (hoàng tộc) để làm nên những chiến thắng lẫy lừng, làm vẻ vang cho dân tộc. Điều đó đã thể hiện trong các cuộc chiến tranh chống Bắc thuộc Đông Ngô, Hán, Đường, Nam Hán của bà Triệu, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Ngô Quyền... Hay các cuộc đánh Tống, bình Chiêm của các vương triều Tiền Lê, Lý, cuộc chặn đứng cơn đại dịch Nguyên Mông đang cuồn cuộn tràn khắp thế giới, rồi ào ạt chảy xuống Việt Nam và Đông Nam Á của vương triều Trần. Nó cũng được thể hiện trong cuộc trường kỳ kháng chiến bền bỉ gần 10 năm chống giặc Minh của Lê Lợi, trong cuộc đại phá mấy chục vạn quân Mãn Thanh của Quang Trung...

Ở những thời kỳ của các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm đó, hay ở những thời kỳ đi lên của dân tộc, của vương triều thì quyền lợi, thì tư tưởng của các dòng họ, của dân tộc Việt Nam phù hợp với quyền lợi, với tư tưởng của dòng họ cầm quyền (hoàng tộc) mà đại diện cao nhất là vua... Tất cả, đã hòa đồng với nhau để đưa dân tộc, đưa đất nước đi lên, phá mọi trở ngại.

Kết thúc bài này, tôi xúc động xin được chép lại mấy vần thơ của Ngô Thì Nhậm trong bài "Phân Mao Lĩnh" (núi Phân Mao) khi ông sang sứ Trung Hoa: 

"Trưng Trắc kiếm mang khai động phủ

Úy Đà quế để lạc sơn sào"

(Lưỡi kiếm Bà Trưng mở ra động phủ

Sân quế của Triệu Đà còn thơm bay khắp hang núi)

Xin được ngân vang những vần thơ của chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu trong bài "Ái chủng":

"Lòng ta ta phải yêu nhau

Đem lời ái chủng mấy câu dặn lòng

Năm ngàn vạn họ đồng tông

Da vàng máu đỏ con dòng Hùng Vương

Năm ngàn năm cõi Viêm phương

Đua khôn Hoa Hán, mở đường văn minh

Tài anh kiệt nối đời sinh

Phá Nguyên mấy lớp, đánh Minh mấy lần

Mở mang chân lạp Chiêm Thành

Trời Nam lừng lẫy, dòng thần ở Nam..."

Ngày 11 tháng 9 năm 2017

T.S Đinh Công Vĩ


Tin liên quan:
+ THÔNG BÁO KHẨN CẤP
+ KIẾN THÚC SỬ HỌC
+ Tiến tới thành lập chi ấp Hàn Lâm Viện Đặng Chủng
+ THƠ CỦA BÀ CON HỌ ĐẶNG
+ Tin buồn
+ CUỘC DI HÀNH THẦN TỔ ĐẶNG DUNG
+ CHẮP NỐI CỘI NGUỒN
+ MỘT GÓC NHÌN XÃ HỘI
+ THANH LAP HOI DONG DANG TOC TINH BINH PHUOC
+ Người thu nhập thấp khoan vội mua nhà!
+ NGÀY NGHỈ BÀ CON THƯ GIÃN MỘT CHÚT
+ TU HAO HAI TIENG QUE HUONG
+ TIN TỨC HOẠT ĐỘNG DÒNG HỌ
+ ĐIỀU LẠ : BA ĐỜI ĐƯỢC CÁ CỨU MẠNG
+ TIẾN SĨ ĐẶNG ĐÔN PHỤC
+ TẾT VỀ NHỚ ĐẶNG TIẾN NAM, NHỚ ĐẶNG TÂN NHỮNG NGƯỜI HỌ ĐẶNG ĐÃ VỀ VỚI TỔ TIÊN
+ HOA HẬU VIỆT NAM 2012 NGƯỜI HỌ ĐẶNG
+ TRUYỀN THỐNG VÀ NGHĨA CỬ CAO ĐẸP CỦA NGƯỜI HỌ ĐẶNG CHÚNG TA ĐƯỢC THỂ HIỆN TỪ NHỮNG CHÁU BÉ LÊN BA
+ DÒNG HỌ THƯ HƯƠNG
+ NHỮNG TRANG TƯ LIỆU QUÝ GIÁ
+ TIN KHUYEN HOC
+ BAC SI DANG THUY TRAM, NGUOI ANH HÙNG HO DANG
+ Lễ an vị Tiên hiền Đặng Nghiêm
+ TRUYEN NGAN
+ Đặng Thị Ngọc Hân đoạt vương miện Hoa hậu VN
+ Đạo diễn Đặng Nhật Minh
+ Đặng Văn Ngữ (4.4.1910 - 1.4.1967 )
+ ĐẶNG THÚC LIÊNG - MỘT CHÍ SĨ YÊU NƯỚC - MỘT NHÀ BÁO TIÊN PHONG.
+ Ông Đặng Thành Tâm
+ Đặng Thành Tâm - Cưỡi trên đầu ngọn sóng
+ Chàng trai “trục trặc lý lịch” chọn Sài Gòn làm đất thử thách
+ “Vé vớt” nào cho chàng trai thi ĐH đạt 25 điểm bị “trục trặc lý lịch”?


Tin khác:
. BÌNH LUẬN CỦA ĐẶNG THÁI SƠN (07.13.2017)
. NGHỊ QUYETS CỦA HỘI NGHỊ LẦN THỨ 8 HĐ ĐT VIỆT NAM (05.14.2017)
. Thông Báo Của HĐ ĐT Việt nam (04.16.2017)
. TIN TỪ ĐỒNG THÁP (04.07.2017)
. THÔNG BÁO KHẨN CẤP (03.27.2017)
. BÌNH LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA NHỮNG NGƯỜI CHỐNG PHÁ (03.20.2017)
. GIỖ TỔ ĐẶNG BÁ KIỂN (02.01.2017)
. THAM LUANC. (12.09.2016)
. HỘI NGHỊ LẦN THỨ 4 KHÓA 3 Hội đồng Đặng tộc VN ( 2014-2019) (12.08.2016)
. CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG HÀNH VI PHÁ HOẠI (12.06.2016)



 
Sự kiện
CN Hai Ba Năm Sáu Bảy
          1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31            
December 2017

Quảng cáo

Tin nóng
BÀI CỦA TIẾN SĨ ĐINH CÔNG VĨ
BÌNH LUẬN CỦA ĐẶNG THÁI SƠN
Thông Báo Của HĐ ĐT Việt nam
TIN TỪ ĐỒNG THÁP
THÔNG BÁO KHẨN CẤP
BÌNH LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA NHỮNG NGƯỜI CHỐNG PHÁ
THAM LUANC.
HỘI NGHỊ LẦN THỨ 4 KHÓA 3 Hội đồng Đặng tộc VN ( 2014-2019)
CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG HÀNH VI PHÁ HOẠI
CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG HÀNH VI PHÁ HOẠI

|| Trang chủ || Diễn đàn || Tông đồ || Lời hoài niệm tâm linh ||
 

Bản quyền thuộc BLL toàn quốc họ Đặng Việt Nam.
Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Đặng Văn Thảo
Địa chỉ: 60/41 phố Thái Hà - Q.Đống Đa -Hà Nội
Điện thoại: 0913.281.821 - 043.9903379 -Fax: 043.572.090
Email: dangvanthaohn@gmail.com
® Ghi rõ nguồn "dangtocvietnam.com" khi bạn phát hành lại thông tin website này.

 

Lượt truy cập

BLLTQ họ Đặng Việt Nam