Đặng Tộc Việt Nam

CON NGƯỜI VÀ SỐ PHẬN
Chủ nhật, 12.22.2013, 09:18am (GMT)

Truyện ngắn

CON NGƯỜI VÀ SỐ PHẬN

Mặt trời vừa nhô lên khỏi phía bên ngoài hòn Mắt, ánh nắng ban mai như một dải lụa màu hồng vuốt ve từng làn nước trong xanh, các đoàn thuyền ra khơi để rồi chiều về đầy ắp cá. Tháng này là mùa cá ve, cá lầm, thỉnh thoảng các lái* lại vớ những mẻ lưới hàng tấn cá eo đuôi thập thè, cá tớp, cá lẹp còn sót lại của vụ đông. Nghe nói hôm qua dưới làng Yên Điềm có vàng lái sáu bủa được gần ba tấn các rọc sim, nói mà sèm rỏ nước bọt. Loại cá này rửa sạch để nguyên cả vảy rồi om với khế chua thật nhừ, cứ thế nhai cả con vừa ngọt vừa bùi. Có người nói cá này nấu như vậy mà ăn với khoai Lào thì hết cả rổ.

Các cụ ông , cụ bà vẫn theo nếp cũ, sáng ra cả dãy ngồi xổm ngoảnh mặt ra hướng mặt trời đón gió… Có cụ tay còn cầm cả con ốc dụi vẽ ngang vẽ dọc dưới nền cát phẳng lỳ , hàng đàn lợn nái ủn a, ủn ỉn chạy nháo nhác tránh những con chó tranh ăn. Bình minh quê tôi.

Chuyện kể rằng, từ xa xưa có một người khổng lồ trèo lên núi Hồng Lĩnh chọn đá gánh ra biển xây chùa, chẳng may đôi gióng chạc bị đứt, thế là một hòn rơi xuống bên ngoài cửa hội, một hòn rơi ở lưng chừng biển, còn cái đòn triêng* văng ra không tìm thấy đâu. Người ta đã đặt cho hòn ngoài khơi tên là hòn Mắt, hòn còn lại gọi là hòn Ngư. Trên tấm bản đồ địa lý Việt Nam, vị trí vùng quê này là giao điểm giữa 18,06vĩ độ Bắc và 105,5 độ kinh đông. Diện tích là 2220héc ta. Rừng núi chiếm tới 30% diện tích đất tự nhiên. Ông Hồ Sĩ Tạo đỗ Tiến Sĩ ( Giải Nguyên) năm 1868 đã viết một bài ký về quê hương mình như sau :” Trên một doi đất cát dài, uốn lượn bao quanh làng bằng một dòng sông nhỏ, làng mạc đông đúc mà vẫn ngăn nắp. Trước làng là biển, sau làng là dãy núi Hồng, lửng thửng mây xanh khi tan khi hợp, rì rầm sóng biển khi nhặt khi khoan. Cá biển nhởn nhơ , chim trời múa hót. Thuyền đánh cá nhả khói, người hái củi đội trăng, phía bắc hòn ngư như đôi cá đang thi nhảy, đảo mắt như cặp mày đang soi gương. Một buổi trời thanh biển lặng, trên cao trông xuống, cảnh trí lớp lớp trải bày, đẹp khôn tả xiết.”

 ***

 

Sáng ra mặt lão Bặc đã đỏ như gà chọi, lão ngậm cái tăm bằng cọng cây chè xanh rồi đi  sang nhà ông trưởng thôn  ngồi rung đùi. Lão vớ chiếc điếu cày rít một hơi dài, nhả khói mù mịt. Sáng nào cũng vậy nhà ông trưởng thôn đầy khách, nó giống như một câu lạc bộ của những người vô công rồi nghề. Cái tính của lão Bặc ai cũng biết, mặc dù khi  còn trẻ ông không phải là người có cái bệnh sĩ như vậy. Nhà nghèo, sáng ra trong bụng chẳng có gì lót dạ, lão ngụm một chén rượu đục rồi sang ngồi ở cái câu lạc bộ ấy, ông rung đùi , xỉa răng như vừa  ăn xong một tô cháo lòng lợn  hoặc bát sành cháo gà đầy ự. Được cái, vì  có tính giống nhau  nên chẳng mấy khi cãi vặt về những chuyện hoang tưởng mà hai vợ chồng lão thường nghĩ ra. Nhớ chuyện cuối năm vừa rồi, cô em gái dưới xóm Nam Mới biếu cho ông anh một con gà nhân việc có con lao động ở bên Hàn gửi tháng lương đầu tiên về. Lão Bặc bảo bà vợ ra chợ mua nửa cân củ Thun*, lão đập nát củ thun trộn với thịt gà , rồi cho nước mắm rút đầu nỏ* vào bóp kỹ. Chiếc chảo lâu ngày không dùng tới có dịp lan tỏa ra mùi thịt gà om thun thơm nức khi ngọn lửa bắt đầu làm nóng đáy chảo. Đã vậy sáng hôm sau Mụ Siêng vợ lão lại còn ra đứng giữa sân gọi với cho con gái :” Tỉm ơi, mi ăn thịt ga xong sao không đậy lại để cho mèo nó nhảy vô mâm, chó mèo làm loạn cả nhà”. Cả xóm biết nhà lão Bặc thịt gà.

Tháng ba,  mùa hoa xoan báo hiệu tết Thanh Minh về. Lão Bặc nhớ lại ngày mình mới nhập ngũ, lúc ấy cả nước đang dồn hết sức người sức của để giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước. Khí thế ngùn ngụt mạnh mẽ như cuồng phong. Lão hăng hái vui vẻ chia tay người thân. O Siêng bẽn lẽn tặng anh Bặc một chiếc khăn mùi soa có thêu hình đôi chim bồ câu và trong ánh mắt ngây thơ trong trắng đó như nhắn nhủ :” Anh ra chiến trường hãy dũng cảm chiến đấu với quân thù, dù một năm, hai năm có khi lâu hơn nữa em vẫn đợi, dù cho vật đổi sao trời em vẫn chờ anh”. Anh Bặc đẹp trai, trong bộ quân phục màu xanh lá cây với chiếc mũ đính ngôi sao vàng năm cánh, thân hình vạm vỡ, tác phong nhanh nhẹn miệng ngân nga bài ca :” Anh tên gì hỡi anh yêu quý, anh vẫn lặng yên như bức Thành đồng, như đôi dép dưới chân anh giẫm lên xác thù, mà vẫn một màu bình dị sáng trong…..”Con người ta sống ở thời đó đa số ai cũng như vậy, lời kêu gọi giải phóng Miền Nam thống nhất nước nhà như một mệnh lệnh từ trái tim. Ít ai như nhà ông Hạc, con trai đi tòng quân mà lại giao hẹn với Ủy Ban xã là : con tôi chỉ đi bộ đội huyện thôi nhé, nếu các ông điều nó đi xa là tôi gọi nó về. Lão phân bua, chuyện giặc giã đánh nhau thì đâu có gì mới, nó như kiếp luân hồi, hết đánh nhau lại hòa bình, rồi lại đánh nhau. Cố nội tôi đã từng làm Thủy sư đô đốc, ông tìm vào Rạch gầm Xoài Mút tận phía nam xa xôi, nghe nói đó là đất của người Chăm Pa để phò Nguyễn Ánh đánh quân Tây Sơn. Lịch Sử như một vòng xoay mà  người cầm chịch luôn phải dựa vào sức dân để đạt được mục đích của họ. Trước đó cụ tổ bốn đời của dòng họ Trương này là quan Ngự sử trong tiều đình Lê Trịnh, khi nghe tin một nửa làng Cương gián bị thiêu đốt cháy trụi, những người sống sót phải vượt biển vào tận Quảng Bình sinh cơ lập nghiệp  thì những giọt nước mắt đau xót đã lăn trên gò má ông.” Ông Hạc giống như một người theo chủ nghĩa hiện sinh. Theo ông, con người luôn phải đối diện với cái chết, cũng như con người từ hư vô trở về hư vô nên cuộc đời ta như một đường hầm không lối thoát. Vì ý thức được điều đó cũng như nhận ra con người là hữu thể cô đơn nên “Lo âu là sự nắm bắt phản tính tự do bởi chính nó”. Con người lo âu vì phải mang trách nhiệm với bản thân. Cuộc tồn sinh là quá trình làm nên mình nên lo âu là bạn đồng hành của con người. Và, khi lo âu kéo dài không có đường giải thoát thì con người rơi vào tuyệt vọng vì con đường trước mắt là hư vô. Tuy nhiên tuyệt vọng không phải là buông xuôi, khuất phục mà con người bắt buộc phải nhập cuộc. Hành trình làm người là một quá trình mâu thuẫn, đau khổ vì không có một thước đo, chuẩn mực để hướng tới. Chính vì con người “bị” sinh ra để đi đến cõi chết và trong cuộc hành trình về với hư vô lại quá trĩu nặng trách nhiệm cũng như sợ hãi nên cuộc đời thật phi lý biết bao. Song, trong cái vòng bắt buộc của  phận người, ta có quyền lựa chọn để làm nên ta. Vậy, cuộc đời không phải là phận số mà là những lựa chọn, những lựa chọn giúp ta trở thành con người. Chỉ khi hiện sinh, đối mặt với mọi tình huống ta mới biết bản chất của mình.

Tất cả những vấn đặt ra để làm sáng tỏ thân phận làm người đó là sự cô đơn và cái chết luôn hiện diện. Nhưng con người biết bất chấp cái chết để nhập cuộc tự do làm nên lịch sử. Ông Hạc sinh ra trong một gia đình , bố là Giáo chức, mẹ là một người hát ả Đảo nổi tiếng vùng Cửa Mây Phan Xá, nên trong người ông luôn luôn có một cách nhìn sự việc xảy ra mang tính trìu tượng của văn học. Ông không sĩ diện hoang tưởng mà ông luôn nhìn hiện tại bằng sự so sánh.

 

Anh Bặc được kết nạp vào Đảng ở mặt trận Quảng Đà trong một cuộc chiến chống càn. Nhận được tin vui này cả nhà vừa mừng vừa lo lắng. Mừng, vì anh đã dũng cảm chiến đấu, được vimh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng để cống hiến nhiều hơn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Lo, vì tuổi đời còn trẻ, kinh nghiệm cuộc sống chưa có bao nhiêu, đành rằng trong chiến đấu phải có hy sinh, nhưng sự lựa chọn hy sinh nhất thời chưa phải là sự cống hiến cao cả nhất. Nhưng cuộc đời con người theo cách lập luận của phái duy tâm thì nó có số phận rõ ràng, mũi tên hòn đạn không phải dễ dàng gì cướp đi sinh mệnh của ai đó khi Nam Tào chưa gạch sổ. Chiến tranh kết thúc, anh Bặc vinh quang trở về mà không mảy may dính một chút thương tật. Còn con trai lão Hạc, cứ điều ra khỏi huyện là lại đào ngũ về làng thì lại chết trong một trận bom hy hữu trên cầu Chua ở bàu Hoa Khê .

            Anh Bặc về quê cưới O Siêng trong niềm vui của cả thôn ngõ Ruồng. Là một Đảng viên được tôi luyện trong chiến tranh lửa đạn, anh tin tưởng tuyệt đối vào chính sách Hợp tác xã, mặc dù cách làm chung , ăn chung đem lại không mấy hiệu quả. Ở cuộc họp nào của chi bộ hoặc hội cựu chiến binh anh đều tung hô mọi chính sách hiện nay là đúng đắn, cuộc sống bà con làng anh ngày càng xuống dốc là do bên dưới thực hiện không đúng…v..v..Cứ thế cái tính của anh dần thay đổi, từ chỗ bản chất là người thật thà chất phác anh dần trở thành người bảo thủ, rồi từ bảo thủ dẫn đến sĩ diện.

Chưa bao giờ nhà lão trưởng thôn lại đông như tối nay, ngồi giữa đám đông của “ câu lạc bộ “ là Lão Hòe ở xóm ngõ trửa, lão Hòe đem chuyện nhặt được ở nhà cô em có ông chồng làm ở ban tuyên giáo tỉnh nhà ra kể. Lão thì thầm, mấy hôm nay trong tivi nói về công cuộc chống tham nhũng đang triển khai sâu rộng trong toàn dân, tôi nghĩ mấy ông buôn trứng vịt lộn dưới Bình Thọ mà móc ngoặc với thủ kho lấy gian vài chục quả mỗi chuyến hàng thì nhất định sẽ bị khui ra. Xưa người ta thường xếp thứ tự các tội mà con người hay gặp phải : Thứ nhất ăn trộm trứng gà, thứ hai tè bậy …thứ ba cười trừ. Nói xong lão cười tít mắt. Ông chắt Kháng nói chêm vào, nghe nói ở trung ương việc chống tham nhũng rầm rộ lắm, cán bộ phải kê tất cả tài sản của mình, từ cái chuồng gà trở đi đều phải rõ ràng, ai che dấu mà phát hiện ra là bị tịch thu, trừ tiền gửi tài khoản ở nước ngoài xa quá thì thôi. Lão Bặc từ nãy ngồi im không nói gì, lão tin rằng đã là cán bộ ai lại đi tham ô. Phải tuyệt đối trung thành, không được đụng đến cái kim sợi chỉ của đồng bào. Đã là lãnh đạo thì phải cần, kiệm liêm chính, chí công vô tư. Cuộc đời của các bậc bề trên phấn đấu là để lại tên trong sử sách, mai kia mất đi, tên của họ sẽ được đem đặt cho các con đường, cho các công viên , trường học…thậm chí là tên của một trại gà công nghiệp, lão cho rằng các ông ấy là đồng chí của mình, làm chi có chuyện như lão Kháng nói. Lão tự hào về các đồng chí cán bộ cách mạng  trong thời đại kinh tế thị trường chắc chắn trong sáng như  các Thày ở tu viện . Rồi Lão gằn giọng, ông Chắt nói ai gửi tiền ở nước ngoài? Làm gì có chuyện ấy, đã là những người tiên phong của giai cấp công nhân khi đi làm cách mạng người ta phải khổ trước , sướng sau, lấy cái vui của mọi người làm cái vui của mình, chia sẻ mọi đau thương mất mát với đồng bào đồng chí. Ông Chắt Khang cười độ lượng mà rằng : Tôi biết chú là người tốt, là Đảng viên mẫu mực, chú luôn luôn nghĩ tốt về các đồng chí chúng ta, đến mức mang cái bệnh Sĩ diện, luôn cho mình đứng trong đội ngũ đó. Tôi hỏi chú, ở Trung ương người ta họp nói ra rả “ Tham nhũng là Quốc nạn” vậy cỡ như chú và bà cu Khoa bán bánh đùm, như tôi và cố đỏ Liện chuyên nghề đi lái Rụi trời rét tím bầm lù khu thì tham ô của ai. Có gì mà tham ô. Chú không muốn đối diện với một sự thật đau đớn là, chỉ có cán bộ mới có điều kiện để tham ô, mà đã là cán bộ cấp to như tổng giám đốc Vinashin, vinalei, Vina.. lừa thì tham ô càng lớn. Khi bị bắt mới biết họ thoái hóa biến chất, còn chưa bị bắt thì vẫn là đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp và của dân tộc.

Những nhân vật chính trong cuộc trường chinh chống tham nhũng bao giờ cũng trang bị cho mình những khẩu hiệu mang phương pháp  tuyên truyền hiện đại, ít người khám phá ra sự ghê tởm của thế giới chung quanh.  Dần dần ta nhận thức được rằng chống tham nhũng là một hiện thực ngẫu nhiên cần phải có con người sống trung thực, phải sống “trong suốt” với chính mình, với các người khác, với đời. Nhưng trên thực tế, con người chống tham nhũng vẫn chỉ là con người hữu hạn, bị giới hạn một cách tàn nhẫn. Tự nó không có giá trị gì cả khi chống lại chính bản thân mình.. Và con đường của của chống tham nhũng đi từ nhân vật trốn chạy sự thật đó bằng đủ thứ ứng xử như những cơn buồn nôn vẫn tồn tại.  Chống tham nhũng của họ như là một biểu tượng về bản năng, về sự phi lý của việc con người tồn tại bằng một lý do nào. Bản thân những cơn buồn nôn đó tự nó không có lý do, không lý giải bằng một tầng chìm ký ức nào.

Biển động, đợt gió mùa đông bắc cuối cùng đang về, lão Bặc mặc chiếc quần bộ đội lâu ngày đã bạc màu, chiếc áo đại cán kiểu Bác Mao đã có nhiều vết sờn trên cổ, thỉnh thoảng lão xoa hai bàn tay vào nhau cho đỡ lạnh rồi đi đến” câu lạc bộ”. Lão Hạc đã ngoài tám mươi, ngồi trên chiếc phản đã mục của ông Hòe, giọng ông ồm ồm đọc một bài thơ không biết của ai :

Anh chưa đến hai mươi mà thấy mình già lắm

Sống thường trực của anh là lợm giọng chán chường

Muốn mửa cuộc đời ra

Mửa cả tiếng chim, mửa cả màu hoa

Anh nhìn đâu cũng thấy điều đã quá nhiều lần nhìn thấy

Cả những con người lặp đi lặp lại thành thiu chảy.

Anh tự biết mình là tính chất của rỗng không

Mà gân anh săn và máu anh hồng…….

                                                                                      THẢO ĐẶNG