..:: Tin nóng:    
Tất cả các tin
Tin tức sự kiện
Lịch sử dòng họ
Chắp Nối Cội Nguồn
Danh Nhân Họ Đặng
Truyền thống dòng họ
Khuyến Học
Trang Thơ
Thư Bạn đọc
Thông Tin Hữu Ích

Newsletter
Tên bạn:
Địa chỉ email:
Chấp nhận

 
Danh Nhân Họ Đặng 
GIỚI THIỆU NHÂN VẬT LỊCH SỬ
Thứ hai, 06.27.2011, 11:14am (GMT)

Chí sĩ Đặng Chánh Kỷ (1890 - 1931)

 

 

Trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, hàng vạn đảng viên, cán bộ và quần chúng cách mạng ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đều thuộc lòng "Bài ca cách mạng” với những vần thơ thiết tha, hùng tráng như giục giã lòng người:

                   “Hỡi anh chị em lao khổ,

                    Nông nỗi này ai tỏ chăng ai.

                    Đã non tám chục năm rồi,

                    Làm thân trâu ngựa cho loài khuyển dương.

                   Quân Tây nó nhiều đường độc ác,

                   Người Nam mình lắm lúc nguy nan.

                   Lại thêm áp bức tham tàn,

                   Càng nô lệ mãi, càng oan khổ dày”

Tác giả bài thơ đó là Đặng Chính Kỷ (tức là Đặng Đức Chêm, Đặng Tùng Mậu), sinh năm 1890 tại làng Hoành Sơn(nay là xã Khánh Sơn), tổng Nam Kim, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Ông nội của Đặng Chính Kỷ là Đặng Đức Uẩn, đậu cử nhân khoa Mậu Thìn, Tự Đức 21(1868). Ông làm quan dưới triều Tự Đức có tiếng là thanh liêm. Ông thân sinh của Đặng Chính Kỷ là Đặng Đức Hoà, vì con quan nên được phong là “Ấm tử”, tuy học chữ Hán nhiều năm nhưng chỉ thích ở quê làm nghề thầy thuốc. Mẹ là Lê Thị Nhã, quanh năm tảo tần làm ruộng và dệt vải. là con út trong gia đình, Đặng Chính Kỷ sớm chịu nhiều cảnh tang tóc, mồ côi. Người cha qua đời lúc Đặng Chính Kỷ mới lên 3 tuổi. Đến 14 tuổi thì ông nội và mẹ lần lượt qua đời. Từ đó Đặng Chính Kỷ sống với người anh cả, một thầy đồ nho thanh bần. Chị dâu cũng làm nghề nông và nuôi tằm dệt vải. Đặng Chính Kỷ vừa học vừa tranh thủ thời gian đi kiếm củi, hái rau giúp anh chị. Hoàn cảnh thực tế của gia đình đã sớm tạo cho Đặng Chính Kỷ gần gũi, chan hoà với bà con lao động trong làng xóm.

Năm 1907, Đặng Chính Kỷ được vị Thượng thư Bộ Học Cao Xuân Dục (bạn thân của ông nội anh) đưa vào Huế nuôi cho ăn học. Khi còn ở quê Nam Đàn, Đặng Chính Kỷ đã có vốn chữ Hán nhất định. Vào Huế anh được học Quốc ngữ và Pháp ngữ. Nhờ trí thông minh rất tốt nên khi nghe hoặc đọc một bài văn, bài thơ vài ba lần, anh có thể thuộc lòng. Do đó, chỉ sau vài năm chuyên cần học tập, anh đã có đủ trình độ để có thể làm một viên chức bàn giấy với số lương đủ sống cho bản thân và gia đình. Nhưng, khi ông Cao Xuân Dục ngỏ ý muốn xin cho Đặng Chính Kỷ một chân thông phán hay ký lục gì đó ở Huế, anh đã khéo léo từ chối và về quê hương mở lớp dạy tư ở thị trấn Sa Nam, huyện Nam Đàn.

Vốn ham hiểu biết, trong khi dạy học, Đặng Chính Kỷ vẫn không ngừng tự học để năng cao trình độ Hán văn, Quốc ngữ và tiếng Pháp. Để thử sức mình, anh cũng lều chõng đi dự kỳ thi Hương cuối cùng vào năm Mậu Ngọ(Khải Định 3- 1918). Trong khoa thi này, ngoài các môn thơ văn bằng chữ hán còn có thêm bài luận và toán bằng tiếng Pháp. Tuy không đậu, nhưng qua kỳ thi này, Đặng Chính Kỷ được chứng kiến sự cáo chung của chế độ thi cử Hán học ở Việt Nam, thể hiện sự suy tàn của chế độ phong kiến và sự bành trướng của chế độ thực dân về văn hoá.

Năm 1923, Đặng Chính Kỷ tốt nghiệp Primère(tiểu học Pháp -Việt). Anh kết hôn với cô Phạm Thị Khương (quê làng Thanh Thủy, nay là xã Nam Thanh, huyện Nam Đàn) và làm nhà riêng sinh sống ở quê vợ.

Năm 1924, Đặng Chính Kỷ vào Huế mở trường ở thành Nội lấy tên là trường Thái Trạch(đưa cả vợ con cùng vào). Lúc bấy giờ, phong trào công nhân và phong trào yêu nước trong toàn quốc đã dâng cao sau sự kiện Phạm Hồng Thái ném bom mưu giết Toàn quyền Méc lanh tại Sa Điện(Quảng Châu, Trung Quốc(19/6/1924).

Năm 1925, nổi lên phong trào đòi thực dân Pháp phải ân xá cho cụ Phan Bội Châu, nhà chí sỹ ái quốc nổi tiếng cùng quê Nam Đàn với Đặng Chính Kỷ). Năm 1926, trong Nam ngoài Bắc rộ lên phong trào truy điệu cụ Phan Chu Trinh - một chí sỹ yêu nước theo xu hướng cải lương. Ngày đêm Đặng Chính Kỷ hăng say làm công tác vận động, tổ chức học sinh tham gia các cuộc mít tinh, biểu tình cùng với nhân dân cố đô Huế đòi “ân xá Phan Bội Châu”, đả đảo chế độ thực dân Pháp tàn bạo...”

Càng căm thù giặc, anh càng khâm phục nhân cách và tài năng của Phan Bội Châu. Từ khi cụ bị thực dân Pháp đưa vào an trí tại Huế, Đặng chính Kỷ có điều kiện lui tới thăm hỏi và dần trở thành người đồng hương thân tín của “Ông già Bến Ngự”. Anh thuộc lòng nhiều bài thơ văn dậy sóng của Phan Bội Châu. Điều đó càng kích thích lòng yêu nước thương nòi và năng khiếu bẩm sinh của anh về văn thơ, phú lục.

Những năm 1925-1926, chủ nghĩa Mác- Lê nin bắt đầu được truyền bá vào Việt Nam qua “Đường Kách mệnh” của Nguyễn Ái Quốc. Hội Việt Nam cách mạng thanh niên(gọi tắt là Hội Thanh niên) được thành lập ở Quảng Châu, Trung Quốc và phát triển tổ chức cơ sở nhiều nơi trong nước. Tại Nghệ An đã có Hội Phục Việt từ 14/7/1925, nay lại có thêm Hội Thanh niên với xu hướng cách mạng tích cực hơn, đã thu hút nhiều tầng lớp gia nhập Hội. Nhiều hội viên Tân Việt đã chuyển sang Hội Thanh niên.

Tại Thừa Thiên Huế, tổ chức Hội Thanh niên cũng phát triển mạnh. Đầu năm 1927, Đặng Chính Kỷ được kết nạp vào Hội Thanh niên. Đó là sự kiện đánh dấu bước trưởng thành của anh. Từ đó, anh dấn thân vào những hoạt động cách mạng sôi nổi với phương hướng, tôn chỉ, mục đích rõ ràng. Anh bắt đầu thâm nhập vào quần chúng, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của nông dân, công nhân và dân nghèo thành thị, dùng mọi hình thức thích hợp để tuyên truyền, giác ngộ ý thức dân tộc, ý thức giai cấp trong các tầng lớp nhân dân.

Trường học của Đặng Chính Kỷ không còn đơn thuần là dạy văn hoá như trước nữa. Anh đã đưa những bài thơ yêu nước và cách mạng để bình giảng nhằm giác ngộ ý thức tự cường dân tộc cho học sinh. Từ lâu, bọn mật thám Pháp đã ngầm theo dõi thầy giáo Kỷ. Đến cuối năm 1927, chúng ra lệnh đóng cửa trường Thái Trạch và trục xuất thầy giáo trở về bản quán. Với thủ đoạn đó, chúng hy vọng sẽ làm cho thầy giáo Kỷ khiếp sợ mà từ bỏ lý tưởng của mình. Nhưng nhà cầm quyền đã đánh giá sai về nhân cách của Đặng Chính Kỷ. Sau khi bị trục xuất về quê hương Nam Đàn, anh đã tìm cách liên lạc với tổ chức cách mạng và được phân công phụ trách một trường học tại nhà thờ Vương Thúc Quý trong làng Sen(Kim Liên, Nam Đàn). Trường này do tổ chức Kỳ bộ Hội Thanh niên Trung Kỳ thành lập tháng 7/1927, vừa để có chỗ cho con em nhà nghèo học hành, vừa làm nơi liên lạc của Hội. Trước đó trường có một lớp, từ khi thầy Kỷ về mở thêm một lớp nữa. Vốn có kinh nghiệm từ khi còn ở Huế, về làng Sen, Đặng Chính Kỷ đã thường xuyên truyền thụ cho học sinh lòng yêu nước, thương dân và chí làm trai; dạy cho các em thuộc lòng nhiều bài thơ yêu nước của Phan Bội Châu, của phong trào Duy Tân, Đông Kinh nghĩa thục...Ban ngày bận công việc nhà trường, ban đêm anh đến thăm hỏi các gia đình học sinh và bà con trong vùng, dùng tài thuyết phục của mình để giác ngộ ý thức dân tộc, lòng căm thù giặc cho đồng bào. Lúc bấy giờ ở làng Sen và nhiều làng lân cận không mấy ai không biết “thầy Kỷ”. Bà con kính nể thầy vì thầy giỏi cả chữ Hán, chữ Tây, Quốc ngữ và dạy dỗ học trò tiến bộ cả về trí tuệ và đức dục. Mặt khác, người ta còn kính phục thầy về đức tính liêm khiết và nhiệt tình yêu nước thương dân.

Năm 1929, Đặng Chính Kỷ nhận được tin dữ Kỳ bộ Hội Thanh niên Trung Kỳ bị mật thám Pháp phát hiện và truy nã, một số cán bộ chủ chốt bị bắt, nhiều tổ chức cơ sở của Hội bị phá vỡ. Vào một sáng mùa Thu năm 1929, tri huyện Nam Đàn đưa lính đến lục soát trường học ở làng Sen. Chúng tịch thu một số sách báo tiến bộ và bắt thầy Kỷ giải về Vinh, nộp cho mật thám Pháp. Sau mấy đợt tra khảo vẫn không tìm ra manh mối gì cụ thể, bọn mật thám Pháp giao vụ này cho bọn quan lại Nam triều xét xử. Án sát tỉnh Nghệ An lúc bấy giờ là Nguyễn Khắc Niêm. Trước kia y là bạn học cùng lớp với Đặng Chính Kỷ. Y làm ra vẻ thương hại, nói với bạn: “Tôi với anh vốn cùng học một thầy, nay tôi “đường thượng chi quan” mà anh thì “giả hạ chi tù”, thật là ái ngại quá. Y khuyên bạn nên bỏ đầu óc bài xích người Pháp. Rồi y rông dài về cái gọi là “công ơn khai hoá của mẫu quốc”, về cái sức mạnh vô địch của quân đội Pháp. Và y tự bào chữa: không phải hạng người có học thức như y mà không nghĩ gì đến non sông, nòi giống; nhưng theo y thì yêu nước phải biểt “thiên thời” mà thời cơ thì lúc này, nước An Nam chưa thể có được...

Tuy rất khó chịu khi nghe tên án sát “tâm sự”, nhưng Đặng Chính Kỷ cố kìm nén êêr khỏi nổi khùng, bất lợi cho việc kết án của mình. Anh chỉ nói đại khái là mình chỉ lo dạy học nuôi vợ con, chưa có hành động gì để có thể gọi là chống đối chính phủ.

Vì không có chứng cớ cụ thể và không moi được lời khai của đương sự nên toà án Nam triều Nghệ An không thể bỏ tù Đặng Chính Kỷ. Chúng giao cho hào lý địa phương quản thúc anh.

Quần chúng Nam Đàn đã giác ngộ nhiều, nên bọn hào lý có thắt chặt vòng quản thúc đến đâu, Đặng Chính Kỷ vẫn tìm cách liên lạc được với tổ chức cách mạng. Anh vô cùng phấn khởi khi được biết phong trào các mạng đang lên rất mạnh và các tổ chức Đông Dương cộng sản Đảng, An Nam cộng sản Đảng đã ra đời. Tại Nghệ Tĩnh, những phần tử tích cực trong Đảng Tân Việt cũng đã thành lập Đông Dương cộng sản Liên đoàn.

Đầu năm 1930, Phan Đình Đồng(quê làng Lương Giai) từ Huế về, có tới thăm Đặng Chính Kỷ. Anh đã khuyên Phan Đình Đồng nên gia nhập ngay tổ chức cách mạng, không nên trở lại Huế là thư ký cho cụ Phan Bội Châu nữa.

Từ tháng 2/1930, sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, phong trào đấu tranh của công nông lên cao khắp trong Nam ngoài Bắc. Trong khi đó cuộc bạo động Yên Bái của Việt Nam Quốc dân Đảng nổ ra(9/2/1930) bị thất bại và bị thực dân Pháp đàn áp dã man. Tại Nghệ An, chính quyền thực dân phong kiến đã bắt giam và kết án nhiều chiến sỹ cách mạng, và đặc biệt, đã xử chém hai cán bộ của Tổng Nông hội Nghệ An tại quán Thầu Đâu(Vinh) là Phan Văn Thân và Nguyễn Văn Đừu vào ngày13/3/1930.

Những vụ khủng bố đó như lửa đổ thêm dầu, làm cho quần chúng càng căm thù địch cao độ và phong trào đấu tranh càng bùng lên mạnh mẽ. Từ đầu tháng 5/1930, cao trào cách mạng ở Nghệ Tĩnh đã bốc cao, mở đầu là cuộc biểu tình lớn của công nhân và nông dân ở Vinh- Bến Thuỷ(1/5/1930) bị đàn áp đẫm máu và cuộc phá đồn điền Ký Viễn ở Thanh Chương(1/5/1930) cũng bị khủng bố dã man.

Từ khi trở thành đảng viên cộng sản, Đặng Chính Kỷ càng hoạt động xông xáo, hết in phát truyền đơn lại đi diễn thuyết, cổ động, tuyên truyền. Đồng chí có tài hùng biện và thường thu hút được lớp trẻ vào phong trào chung. Ngày 30/8/1930, Dặng Chính Kỷ đã cùng các đảng viên, cán bộ trong huyện vận động hàng ngàn quần chúng kéo lên huyện lỵ biểu tình đòi giải quyết các yêu sách của nhân dân. Tri huyện Lê Khắc Tưởng đã phải ký vào bản yêu sách, trong đó có câu cam đoan: “Nam Đàn tri huyện huyện quan, tự tư dĩ hậu bất đắc nhũng nhiễu nhân dân”(Tri huyện Nam Đàn từ nay về sau không nhũng nhiễu nhân dân nữa).

Những hoạt động không biết mệt mỏi của Đặng Chính Kỷ đã gây được uy tín đối với Đảng bộ và nhân dân trong huyện. Sau Đại hội Đảng bộ Nghệ An lần thứ nhất (10/1930), Đảng bộ Nam Đàn đã bầu Ban chấp hành Đảng bộ chính thức gồm 7 uỷ viên: Đồng chí Đặng Chính Kỷ được bầu làm Bí thư đầu tiên của Đảng bộ Nam Đàn.

Với trọng trách đó, Đặng Chính Kỷ ngày đêm cùng Ban chấp hành, vừa đối phó với sự đàn áp của địch, vừa ra sức bám sát cơ sở xây dựng các Xã bộ nông(Chính quyền Xô Viết ở thôn xã) với các đội tự vệ đỏ gan dạ.

Lúc bấy giờ( khoảng tháng 10, 11/1930) phong trào cách mạng toàn tỉnh chưa thật đều. Trong khi phong trào các huyện Thanh Chương, Nam Đàn, Anh Sơn, Hưng Nguyên đã lên rất cao thì phong trào ở các huyện Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu chưa mạnh lắm. Vì vậy, Xứ uỷ Trung Kỳ và Tỉnh uỷ Nghệ An có chủ trương đầu tư cán bộ giỏi cho các huyện ấy. Đặng Chính Kỷ được Tỉnh uỷ Nghệ An điều lên phụ trách ban Tuyên truyền cổ động của Tỉnh uỷ và biệt phái về vùng Yên Thành, Diễn Châu.

Chính trong thời điểm đó, Đặng Chính Kỷ đã sáng tác “Bài ca cách mạng” để tuyên truyền, cổ động, nhằm thúc đẩy phong trào cách mạng ở các huyện chưa có những cuộc đấu tranh quyết liệt như các huyện khác:

 

“..Kìa Bến Thuỷ đứng đầu dậy trước,

Nọ Thanh Chương tiếp bước đứng lên.

Nam Đàn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên,

Anh Sơn, Hà Tĩnh một phen dậy rồi.

Không có lẽ ta ngồi chịu chết?

Phải cùng nhau cương quyết một phen.

Tổng này, xã nọ kết liên,

Ta hò, ta hét, thét lên mau nào !

Trên gió cả cờ đào phất thẳng,

Dưới đất bằng giấy trắng tung ra

Giữa thành một trận xông pha,

Bên kia đạn sắt bên ta gan vàng..”

Bài thơ như tiếng kèn xung trận, giục giã mọi người vùng lên đấu tranh. Có thể nói đó là biểu tượng của ý chí quật cường, khí thế xung thiên của Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Ngoài “Bài ca cách mạng”, Đặng Chính Kỷ cùng cán bộ trong ban Tuyên truyền Tỉnh uỷ Nghệ An đã sáng tác một bài vè dài (trên 100 câu) “Lời hiệu triệu của Đảng Cộng sản Đông Dương”, trong đó có đoạn:

 

“...Đảng Cộng sản truyền bá

Chủ nghĩa Mác - Lê nin

Nào cổ động thanh niên

Nào hô hào nữ giới

Công nông binh một phái

Anh em phải đồng tình

Quyết mộ dạ nhiệt thành

Để cùng nhau chiến đấu

Trận cuối cùng chiến đấu”

Trong thời điểm 1930-1931, trình độ văn hoá của cán bộ, đảng viên và quảng đại quần chúng còn rất thấp. Do vậy công tác truyên truyền có vị trí đặc biệt quan trọng. Đặng Chính Kỷ đã phát huy hết năng lực, sở trường của mình và đã góp phần xứng đáng vào công tác tuyên truyền cổ động của Đảng. Đặc biệt đồng chí còn có tài diễn thuyết. Bài văn “Nói chuyện với thanh niên” của Đặng Chính Kỷ đã từng thuyết phục được thế hệ trẻ ở Nghệ Tĩnh thời kỳ 1930-1931 và được nhân dân nhập tâm, đến nay vẫn nhiều người còn nhớ. Xin trích dẫn vài đoạn:

 

“... Thanh niên là gì ? Là những người tuổi trẻ hồn nhiên, không chịu cúi lòn, mng một tâm hồn cao đẹp...Kìa như nước Nga- la- tư xưa kia chẳng phải là một nước quân chủ chuyên chế ư ? Nhờ có Đoàn Thanh niên chia vai gánh vác, hết sức giăng cầm mà nước Nga -la -tư ngày nay đã trở thành vô sản chuyên chính. Kìa như nước Bô - li - vi xưa kia chẳng phải là nước phụ thuộc với Đức ư ? Nhờ có Đoàn Thanh niên chuông dồn trống giục, thức tỉnh hồn mê mà nước Bô -li- vi ngày nay cũng trở thành nước tự do bình đẳng.

 

À ! Đáng kính thay thanh niên ! Đáng sợ thay thanh niên ! Dẫu ai nói thanh niên lay trời, trời cũng phải chuyển, lay đất, đất cũng phải long...Thanh niên ngoại quốc đã nắm chặt cái vận mệnh xã hội trong tay. Ngó lại thanh niên nước mình thì sao ?

 

...Khi mới cắp sách đến nhà trường, miệng đọc a, b, c nhưng óc đã chứa đầy những “hồng” với “thị”. Khi bập bẹ năm ba tiếng toa, moa, nông, uỷ, chân đã lo xỏ “bốt tin” sao cho mốt, tay lo cắp ba toong sao cho oai. Kịp đến khi đã được cái “tham” cái “đốc” chi rồi, thời mặt múa mày bay, ngó trong nòi giống họ hàng nhà mình không có ai hơn mình nữa. Khiến đến nỗi, gà trong chuồng tô vẽ mặt, cá dưới chậu ngút ngoắc đuôi. Ôi, nô lệ, già chưa kịp trở vai, nộ lệ trẻ đã toan cất gánh ! Tính chất anh em thanh niên ta như thế đó ! Tư cách thanh niên ta như thế đó. Khiến những người có tâm huyết không buồn rơi nước mắt, tức tím lá gan sao được !

Việc hiện thời ta phải chung lo. Kìa ngọn cờ tranh đấu đã phấp phới giũa hoàn cầu. Nọ làn sóng dân quyền đã tràn lan trong bốn bể. Xin anh em thanh niên hãy mau mau đứng dậy! Dốc một lòng dũng cảm, quyết một chí hy sinh. Đổ máu đào để đòi lại lợi quyền, phất cờ đỏ để sửa sang lại nền xã hội”.

Có thể nói thành tích nổi bật của Đặng Chính Kỷ trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh và trong cả qunảg đời hoạt động của đồng chí là công tác tuyên truyền, huấn luyện, cổ động với những dấu ấn đặc biệt bằng những áng thơ bất hủ.

Thơ văn Xô Viết Nghệ Tĩnh là những viên ngọc quý trong kho tàng văn học cách mạng Việt Nam. Đặng Chính Kỷ đã góp những viên ngọc sáng chói không bao giờ phai mờ trong dòng văn học cách mạng.

Tiếc thay, trong một đợt khủng bố của thực dân Pháp và bọn tay sai, Đặng Chính Kỷ đã bị bắt, đồng chí đã mất trong tù vào cuối năm 1931, khi mới ở tuổi 42.

Đặng Chính Kỷ là một tấm gương sáng về nhiệt tình cách mạng, về tính sáng tạo, về năng lực và phương pháp tuyên truyền cổ động. Những lời thơ, lời văn thể hiện hoài bão và ý chí mãnh liệt của đồng chí đối với lý tưởng cộng sản còn sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta.

 

Bùi Ngọc Tam. Trưỏng Ban NCLS Đảng Nghệ An

Chí sĩ Đặng Thái Thuyến (1900-1931)

Đặng Thái Thuyến là người con duy nhất của ông Đặng Thái Thân, một nhân vật trọng yếu của Duy Tân Hội và phong trào Đông Du năm 1905-1908. ông Đặng Thái Thân quê ở làng Hải Côn, tổng Đặng Xá, huyện Nghi Lộc. Lúc làm nghề dạy học ông cư trú ở quê vợ và sinh Đặng Thái Thuyến tại làng Thanh Thuỷ, tổng Xuân Liễu(nay là xã Nam Thanh), huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Đặng Thái Thuyến sinh năm 1900, lúc ông Đặng Thái Thân đang vừa dạy học vừa ôn tập bài vở để chuẩn bị thi Hương. Bốn năm sau, ông bỏ nghề dạy học, cùng với Phan Bội Châu liên kết các sỹ phu, thành lập Duy Tân Hội và tiến hành cuộc vận động Đông Du. Ngôi nhà tranh nhỏ bé của gia đình Thuyến lúc đó trở thành nơi tụ hội của các sỹ phu trong vùng. Hình ảnh các cụ quên ăn, quên ngủ, ngày đêm bàn tính công việc cứu nước đã để lại những ấn tượng sâu sắc ngay từ quãng đời niên thiếu của Đặng Thái Thuyến.

Năm 1908, cuộc vận động Đông Du thất bại, các sỹ phu có tên tuổi trong vùng bị thực dân Pháp cầm tù và đày biệt xứ. Ngày 11/3/1910, ông Đặn Thái Thân bị giặc Pháp vây bắt ở làng Phan, huyện Nghi Lộc. Biết không còn cách nào thoát thân, ông đã bắn lại chúng, tiêu diệt hai lính địch và sau đó tự bắn vào mình, không để sa vào tay giặc. Mới mười tuổi đầu, Đặng Thái Thuyến đã phải chịu mồ côi.

Sau ngày thân phụ hy sinh. bị giặc Pháp thường xuyên quấy nhiễu, nên đời sống hai mẹ con anh gặp rất nhiều khó khăn. Anh phải nghỉ học, ở nhà giúp mẹ, sau nhờ người cậu giúp đỡ anh mới có điều kiện học hết chương trình tiểu học.

Vì là “dân ngụ cư”, gia đình không có ruộng đất, nghề dệt vải thuê của mẹ không đủ nuôi sống, anh phải kiếm thêm công việc làm ăn. Ngày mùa, anh đi làm thuê, làm mướn hoặc theo dân làng lên núi Đại Huệ cuốc dất làm rẫy, lúc nghề nông nhàn rỗi thì về quê nội ở Cửa Hội mua nước mắm gánh lên bán. Những lúc thiếu thốn, mẹ con anh lại nhờ vào sự giúp đỡ, đùm bọc của bà con làng xóm.

Thương cảnh ngộ gia đình của một sỹ phu đã hy sinh vì nước, cụ cử Đệ, quê ở huyện Nghi Lộc đưa Đặng Thái Thuyến về giúp việc tại hiệu thoốc Bắc của mình ở thành phố Vinh. Đã cùng chịu cảnh đói nghèo với bà con nông dân, vào Vinh anh càng thông cảm với những người đi làm thuê ở thành phố. Hàng ngày họ phải làm lụng vất vả dưới làn roi vọt của bọn cai ký, bọn tư bản trong các nhà máy, các hiệu buôn. Họ bị hành hạ, ngược đãi, khinh rẻ chẳng khác dì súc vật. Cảnh đời đen bạc càng chất thêm nỗi oán hờn trong lòng anh. Và hơn lúc nào hết, anh thấy rất rõ ý nghĩa lớn lao của các hoạt động cứu nước của các sỹ phu, trong đó có thân phụ anh.

Không thể yên phận với việc chỉ biết kiếm cơm ăn hàng ngày, anh tìm gặp các sỹ phu để yêu cầu họ chỉ vẽ cho con đường cứu nước. Nhưng số sỹ phu sống sót không còn được là bao, vả lại các cụ cũng đang bi quan trước những thất bại đã qua.

Ngày đêm Đặng Thái Thuyến sống trong tâm trạng lo âu, phiền muộn:

Mười sáu tuổi đầu cất gánh lo,

Nào ai có thấu nỗi này cho.

Giang sơn một gánh hai vai nặng,

Thân thể năm canh chín khúc vò.

Nghe tin cụ Phan Bội Châu đang hoạt động ở nước ngoài, Đặng Thái Thuyến tìm đến gặp các con của cụ ở Nam Đàn để hỏi thăm tin tức. Được họ hướng dẫn, Đặng Thái Thuyến tích cực tham gia vận động các bạn thanh niên có thù nhà nợ nước sang Xiêm, xây dựng Trại Cày, chuẩn bị cơ sở lâu dài cho công việc phục quốc.

Đầu năm 1924, Đặng Thái Thuyến cùng với hàng chục thanh niên Nghệ An rời quê hương sang Trại Cày Bản Thầm, tỉnh Phì Chịt, Xiêm. Ở đây anh được sống gần gũi với người ông họ là Đặng Tử Kính và cùng các ông Đặng Thúc Hứa, Võ Trọng Đài, Ngô Quảng...Các ông đều là người cùng quê, lại là bạn chiến đấu gần gũi của thân phụ anh. Hoặc bị chính phủ Nhật trục xuất, hoặc bị thực dân Pháp khủng bố trong nước, họ lánh nạn sang đây tập hợp kiều bào, xây dựng cơ sở cách mạng, tiếp tục nhiệm vụ cứu nước. Mặc dù đã trải qua nhiều lần thất bại, nhưng họ vẫn không nhụt khí. Đặng Thái Thuyến đã trưởng thành nhanh chóng trong tình thương yêu, dạy bảo của các bậc cha chú, những người đang hiến dâng cuộc đời của mình cho công cuộc giải phóng đất nước.

Ngoài việc học tập, lao động sản xuất tự túc, anh đi sâu vào các bản làng, vừa vận động kiều bào tham gia các hoạt động yêu nước, vừa dạy cho con em của họ học quốc ngữ. Hễ thấy ai gặp khó khăn hoạn nạn là anh tìm cách giúp đỡ, chẳng chút nề hà.

Khoảng cuối năm 1925, anh được giao nhiệm vụ liên lạc với trong nước. Trên tuyến đường từ Xiêm qua Lào về Nghệ Tĩnh, anh đi lại như con thoi. Mỗi lần chuyển xong thư từ, tài liệu về nước, khi trở lại Xiêm, anh lại dẫn thêm một số thanh niên sang học tập.

Đặng Thái Thuyến là người giàu tình cảm và tràn đầy tinh thần lạc quan cách mạng. Mỗi lúc gặp khó khăn, anh thường làm thơ để nhắc nhở mình và động viên các bạn. Thơ anh bao giờ cũng xoáy vào vấn đề nóng hổi nhất, sâu sắc nhất là đánh đuổi giặc Pháp, giải phóng đất nước Việt Nam. Có lần cùng các bạn ngủ đêm giữa rừng sâu, nghe tiếng gầm thét của thú dữ, anh đã ứng khẩu mấy câu thơ:

Gối đá, giường cây nào có sợ,

Màn trời, chiếu đất thế mà vinh.

Cuông kê như dục đền thù nước,

Vượn hú dường ai nhắc nhủ mình.

Sau ngày đồng chí Hồ Tùng Mậu từ Trung Quốc sang Xiêm, tháng 6/1926, chi bộ Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội được thành lập ở Phi Chịt, Đặng Thái Thuyến là một trong những hội viên đầu tiên của chi bộ. Tháng 9/1926, Đặng Thái Thuyến  và Võ Tùng được cử đi dự lớp huấn luyện ở Quảng Châu(TrungQuốc) do đồng chí Nguyễn Ái Quốc trực tiếp giảng dạy. Đồng chí say sưa nghe Người phân tích kinh nghiệm của các cuộc cách mạng trên thế giới và chỉ rõ đường lối cách mạng Việt Nam là đi theo cách mạng tháng Mười Nga.

Nguyện vọng của Đặng Thái Thuyến là được về nước để truyền lại cho đồng bào, bè bạn tất cả những điều mới mẻ mà mình đã thu nhận được. Nhưng do yêu cầu của cách mạng, đồng chí phải ở lại Quảng Châu giúp việc trong cơ quan Tổng bộ. Hôm tiễn bạn về nước hoạt động, đồng chí đã tâm sự:

Đất Bắc tôi nào e gió bụi,

Trời Nam bác chớ ngại xông pha.

Còn trời, còn đất, còn non nước,

Vận hội sau này ta gặp ta.

Vinh dự lớn đối với Đặng Thái Thuyến trong thời gian này là được gần gũi đồng chí Nguyễn Ái Quốc và được Người thường xuyên bồi dưỡng về đường lối cách mạng vô sản, về tư cách của người cách mạng. Do đó, bất cứ việc gì, dù khó khăn, nguy hiểm đến mấy, Đặng Thái Thuyến cũng đều quyết tâm hoàn thành, không chút do dự, đắn đo. Đồng chí đã góp phần tích cực vào những hoạt động của Tổng bộ Hội Thanh niên.

Sau sự biến phản cách mạng của Tưởng Giới Thạch, hoạt động của Hội Thanh niên ở Quảng Châu gặp khó khăn, Đặng Thái Thuyến cùng với ban huấn luyện của Tổng bộ chuyển sang Xiêm. Đồng chí lại tham gia vào việc tổ chức các lớp huấn luyện cho cán bộ từ trong nước gửi sang. Giữa năm 1927, Đặng Thái Thuyến được phái từ Phì chịt ra vùng Đông Bắc  đẻ chỉ đạo việc gây dựng cơ sở ở vùng đó. Cuối năm 1927 đầu 1928 đã có thêm ba chi bộ ở U don Tha ni, Xa con Na khon và Na khon Pha nôm. Ba chi bộ này đã tổ chức thành Tỉnh uỷ U don. Tỉnh uỷ gồm các đồng chí:  Canh Tân(Đặng Thái Thuyến), Tăng(Trần Văn Chấn), Đình (Võ Văn Kiều), Nghĩa (Hoàng Văn Hoan), và Hải(Dụ) do Đặng Thái Thuyến làm Bí thư. Tư fđó U don trở thành trung tâm hoạt động của Việt kiều ở vùng Đông Bắc.

Trong những năm 1928-1929, đồng chí Nguyễn Ái Quốc sang hoạt động ở Xiêm, Đặng Thái Thuyến thường đi theo Người làm nhiệm vụ dẫn đường và phiên dịch. Đồng chí được cử vào Ban lãnh đạo chi bộ Hội Thanh niên(tại Xiêm) và Tổng hội Việt kiều, phụ trách tờ báo Đồng Thanh, sau đổi là báo Thân Ái.

Đồng chí đặc biệt quan tâm đến công tác vận động quần chúng. Thông qua báo Thân Ái, đồng chí cổ động Việt kiều tham gia các hội tương trợ, các đoàn thể yêu nước và tích cực giúp đỡ các đoàn thể đó. Đồng chí thường làm thơ đăng trên báo Thân Ái để tố các chế độ bất công và kêu gọi quần chúng nhân dân đấu tranh:

Xã hội bất bình là thế đó,

Búa liềm đứng dậy, ớ anh em.

Tháng 5/1929, Đặng Thái Thuyến và đồng chí Võ Tùng được chi hội XIêm cử đi dự Đại hội Đại biểu toàn quốc Việt Nam Thanh niên cách mạg đồng chí hội ở Hương Cảng. Đồng chí Đặng Thái Thuyến được bầu làm Uỷ viên dự khuyết Ban chấp hành Tổng bộ, đặc trách công tác ở Xiêm. Sai Đại hội, đồng chí lại tham dự “ Hội nghị trù bị tổ chức cộng sản”, dự thảo Điều lệ và kế hoạch xây dựng Đảng.

Trở về Xiêm, Đặng Thái Thuyến báo cáo với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về tình hình đã xảy ra trong Đại hội Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Dưới sự chỉ dẫn của Người, một mặt, Đặng Thái Thuyến vẫn duy trì hoạt động bình thường của chi bộ Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội; mặt khác, tiến hành việc thành lập chi bộ Đảng theo kế hoạch của “Hội nghị trù bị tổ chức cộng sản”.

Sau Hội nghị thống nhất Đảng(ngày 3/2/1930), đồng chí Nguyễn Ái Quốc triệu tập Đặng Thái Thuyến sang Hương Cảng để phổ biến Nghị quyết Hội nghị lịch sử này.  Vừa về tới Băng Cốc, đồng chí bị nhà cầm quyền Xiêm bắt giao cho thực dân Pháp ở Đông Dương.

Sở mật thám Trung Kỳ dùng mọi thủ đoạn tra tấn dã man, nhưng vẫn không lay chuyển được ý chí sắt đá của Đặng Thái Thuyến. Ngồi trong nhà lao Thừa Phủ(nhà lao tỉnh Thừa Thiên), đồng chí đa xlàm bài thơ tự thán:

Ba mươi năm lẻ bước phiêu lưu,

Công việc chưa xong, thân đã tù.

Nào phải lợi quyền chi một nuứơc,

Mà chung tranh đấu cả Nam châ.

Trên trời chớ luận Âu cùng Á,

Trước trận đừng quên bạn với thù.

Thân thể hãy còn, còn sự nghiệp,

Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu.

Đầu năm 1931, toà án Nam triều ở Huế kết án Đặng Thái Thuyến tù chung thân và đày vào ngục Kon Tum, một nhà tù mà thực dân Pháp dựng lên để giam những chiến sỹ bị bắt trong cao trào cách mạng năm 1930-1931.

Lúc Đặng Thái Thuyếbn vào Kon Tum, ở đây đã có gân ba trăm tù quê ở tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi. Bấy giờ, đoạn đường số 14 từ Kon Tum đi Buôn Ma Thuột đã làm xong, bọn thực dân Pháp đang bắt tù đi khai thác tiếp đoạn đường đi Đak Pao, Đak Pet, cách ngục Kon Tum trên 100 km.

Phần phải làm việc nặng nhọc, lại bị bọn lính cai tù đánh đập, hành hạ tàn nhẫn, phần thì ăn ở khổ cực, thiếu thốn, thuốc men không có nên cảnh chết chóc diễn ra hêt ssức thê thảm. Chưa đầy nửa năm mà đã có tới một nửa số tù bỏ mạng trên các đoạn đường vừa khai phá. Ở huyện Nghi Lộc có hai anh em là Hương bộ do không có sức theo kịp đoàn đi làm đường cũng bị chúng đánh chết xác vùi ở bên đường. Cảnh tượng đau lòng ấy thôi thúc đồng chí làm tất cả mọi việc có thể làm được để hạn chế đau thương cho bạn. Đồng chí thường đảm nhận những công việc nặng nhọc để đỡ đần cho những người ốm yếu và đứng mũi chịu sào bênh vực cho các bạn tù, bất chấp mọi hiểm nguy. Nhiều lần Đặng Thái Thuyến định liều mình với tên Mu le, một tên cai tù gian ác người Pháp để trừ khử tai hoạ cho anh em. Nhưng nghe theo lời khuyên của các bạn, đồng chí buộc lòng phải từ bỏ ý định đó, vì nếu làm như vậy, bọn chúng sẽ trả thù điên cuồng hơn.

Đặng Thái Thuyến cùng với một số đồng chí trao đổi với nhau: Trên đời ai cũng muốn sống, nhưng vì đã đến bước đường cùng, chúng ta cần phải hy sinh một ít người để giành sự sống cho toàn thể. Trước cái chết, chúng ta không nhường lại cho ai. Chúng ta phải nhận lấy và vui lòng nhận lấycái chết để hoạ may đồng chí mình có thể sống được...

Ngày 12/12/1931, lúc bọn cai ngục dẫn lính đến nhà lao để bắt anh em tù đi làm; theo kế hoạch đã bàn, mọi người giữ chặt cửa buồng giam không cho lính vào và la hét phản đối. Tiếng hô khẩu hiệu và tiếng đập phá làm chấn động cả một vùng. Mu le tên cai ngục người Pháp sợ hãi, đứng ngoài doạ dẫm.Anh em tù vẫn một mực bảo nhau:

Đi cũng chết, không đi cũng chết. Thà chết ở đây còn hơn lên Đak Pet để chịu khổ trăm đường rồi mới chết

Thấy tình thế khó khăn, Mu le phải điện báo cho công sứ, giám binh ở Kon Tum và các đồn lính đóng xung quanh. Bọn chúng tập trung lính đến bao vây và chĩa súng vào các buồng giam gọi đại diện của tù ra hỏi. Trương Quang Trọng đứng trước, hiên ngang phanh ngực ra thách thức, bị chúng bắn chết. Người trước ngã xuống, người sau kế tiếp tiến lên. Chỉ trong mấy phút, trước cửa buồng lao đã có mười sáu người chết và bị thương nằm chồng lên nhau. Đặng Thái Thuyến cũng bị một viên đạn xuyên qua đùi. Khi tên Mu le đạp cửa xông vào, đồng chí gượng dậy, vớ lấy ống tre đựng phân của anh em tù đập vào đầu hắn. Đồng chí bị trúng đạn lần thứ hai và hy sinh.

Năm ấy đồng chí vừa tròn 31 tuổi. Đặng Thái Thuyến và hàng chục chiến sỹ cách mạng đã ngã xuống, nhưng tinh thần chiến đấu bất khuất của các đồng chí đã khơi dậy trong anh em tù chính trị mối thù không bao giờ nguôi đối với giặc, cổ vũ họ tiếp tục cuộc đấu tranh để giành sự sống. Cuộc đấu tranh đã gây một tiếng vang khắp cả nước ta và làm xôn xao dư luận cả ở bên Pháp, buộc bọn thực dân phải nhượng bộ.

Trong cuộc đấu tranh đó, mọi người thường nhắc tới lời thề son sắt của đồng chí Đặng Thái Thuyến lúc sinh thời như một điều tâm niệm của họ:

Chẳng đội chung trời thù chưa trả,

Một lời sắt đá dám đơn sai.

 


Tin liên quan:
+ ĐI TÌM DẤU VẾT TỔ TIÊN
+ các tác phẩm xưa của các vị tổ họ đặng cần được nghiên cứu
+ MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỔ CHỨC DÒNG CHI ẤT HÀN LÂM VIỆN ĐẶNG CHỦNG
+ TRẢ LỜI Ý KIẾN BẠN ĐỌC
+ Văn hóa nghệ thuật Truyện ngắn : CON ĐƯỜNG NÀO CHO ANH Ông Vạn đứng ngắm cánh đồng ngập mặn xen lẫn ao hồ bỏ hoang. Trong đầu ông nghĩ ra bài toán thoát khỏi cảnh nghèo. Đất ở vùng này r
+ Văn hóa nghệ thuật Truyện ngắn : CON ĐƯỜNG NÀO CHO ANH Ông Vạn đứng ngắm cánh đồng ngập mặn xen lẫn ao hồ bỏ hoang. Trong đầu ông nghĩ ra bài toán thoát khỏi cảnh nghèo. Đất ở vùng này r
+ Từ phương Đặng tính, giai ngã tử tôn
+ MỘT BỘ PHẢ QUÝ GIÁ BỊ MẤT QUYỂN I.
+ Văn hóa nghệ thuật
+ CÁC VỊ CHÚ Ý SỨC KHỎE
+ LỜI HAY Ý ĐẸP
+ MỘT BÀI THƠ CHƯA BIẾT CỦA LƯU QUANG VŨ
+ THÔNG TIN VỀ SỨC KHỎE
+ NEN CO MOT TUI LAC DA RANG DE THUONG XUYEN NHAM NHI KHI LAM VIEC
+ Cao hổ cốt có lợi ích gì?
+ THIT BO A LUOI, THUA THIEN HUE NGON TUYET VOI
+ Tri thức là ngọn đèn
+ CỤ TỔ HỌ ĐẶNG LÀNG HÀNH THIỆN XUÂN TRƯỜNG NAM ĐỊNH
+ LỊCH SỬ HỌ TRẦN KHÔNG CÓ MỘT DÒNG NÀO NÓI ĐỔI THÀNH HỌ ĐẶNG
+ Chuyện phòng the tuổi "hoa râm"
+ Bạn biết gì về chứng huyết áp thấp
+ Cây bá bệnh giúp tăng hoóc môn sinh dục nam
+ Tham khảo thêm về chế độ ăn bệnh cao huyết áp
+ LICH SU DANG CONG SAN VIET NAM
+ LICH SU DANG CONG SAN VIET NAM
+ DOC SACH CUA VIEN VIET NAM HOC VA KHOA HOC PHAT TRIEN
+ DI TIM COI NGUON
+ CHUYEN NGAY XUA
+ BIET ROI MA CU NOI MAI.....TUYET VOI
+ NGHIEN CUU TRAO DOI
+ TRAO DOI
+ Xã Thượng Nông-Tam Nông-Phú Thọ: Ngôi mộ bị chiếm
+ Gửi bà con họ Đặng có gốc ở làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định
+ Kính gửi : Bà con họ Đặng làng Hành Thiện xã Xuân Hồng, Huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
+ Ai gây chia rẽ họ tộc ?
+ Một số hình ảnh về hội nghị BLL họ Đặng Tp. Hồ Chí Minh ngày 15/ 11/2009
+ Những Vị thần họ Đặng qua các triều đại trong di sản Hán Nôm Việt Nam
+ Thân gửi anh Xuân Phi
+ Bảy bộ phả lớn nhất Việt Nam
+ Thủy tổ họ Đặng gốc Trần không phải là tiến sĩ Trần Văn Huy hậu duệ của Hưng Đạo Đại Vương
+ Kính gửi ông tổng BT tạp chí Hà Nội ngàn năm
+ CẦN NHANH CHÓNG LẬP HỒ SƠ DI TÍCH QUỐC GIA VỀ KHU MỘ VÀ ĐỀN THỜ ĐẶNG TẤT Ở THỪA THIÊN HUẾ
+ NGUYỆN VỌNG CHÍNH ĐÁNG KHỞI ĐẦU THUẬN LỢI
+ SỰ NGỘ NHẬN TAI HẠI
+ NHỮNG TẤM LÒNG THÀNH GẶP NHAU
+ TÌM RA CĂN NGUYÊN SỰ NGỘ NHẬN


Tin khác:
. TIM HIEU DI TICH (03.24.2011)
. Vĩnh An - Nhạc sĩ của những miền quê (02.26.2011)
. Liệt sĩ Đặng Văn Cân - Người anh hùng dân tộc (11.01.2010)
. Đặng Thị Kim: Nữ anh hùng tuổi 19 (07.28.2010)
. Bừng sáng giấc mơ của “chàng hiệp sĩ” (06.15.2010)
. Gửi bà con họ Đặng có gốc ở làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định (03.05.2010)
. GS ĐẶNG VĂN CHUNG: NGƯỜI THẦY CỦA NHIỀU THẾ HỆ BÁC SĨ NỘI KHOA (01.03.2010)
. Giáo sư Đặng Thai Mai (12.14.2009)
. Hoàng giáp ĐẶNG VĂN THỤY (1858-1936) (11.13.2009)
. ĐÔ ĐỐC ĐẶNG TIẾN ĐÔNG (11.13.2009)



 
Sự kiện
CN Hai Ba Năm Sáu Bảy
          1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31            
December 2017

Quảng cáo

Tin nóng
ĐẶNG DUNG (鄧容),
Giáo sư Đặng Thị Hồng Vân
GIỚI THIỆU NHÂN VẬT LỊCH SỬ
Vĩnh An - Nhạc sĩ của những miền quê
Liệt sĩ Đặng Văn Cân - Người anh hùng dân tộc
Đặng Thị Kim: Nữ anh hùng tuổi 19
Bừng sáng giấc mơ của “chàng hiệp sĩ”
Gửi bà con họ Đặng có gốc ở làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định
GS ĐẶNG VĂN CHUNG: NGƯỜI THẦY CỦA NHIỀU THẾ HỆ BÁC SĨ NỘI KHOA
Hoàng giáp ĐẶNG VĂN THỤY (1858-1936)

|| Trang chủ || Diễn đàn || Tông đồ || Lời hoài niệm tâm linh ||
 

Bản quyền thuộc BLL toàn quốc họ Đặng Việt Nam.
Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Đặng Văn Thảo
Địa chỉ: 60/41 phố Thái Hà - Q.Đống Đa -Hà Nội
Điện thoại: 0913.281.821 - 043.9903379 -Fax: 043.572.090
Email: dangvanthaohn@gmail.com
® Ghi rõ nguồn "dangtocvietnam.com" khi bạn phát hành lại thông tin website này.

 

Lượt truy cập

BLLTQ họ Đặng Việt Nam