..:: Tin nóng:    
Tất cả các tin
Tin tức sự kiện
Lịch sử dòng họ
Chắp Nối Cội Nguồn
Danh Nhân Họ Đặng
Truyền thống dòng họ
Khuyến Học
Trang Thơ
Thư Bạn đọc
Thông Tin Hữu Ích

Newsletter
Tên bạn:
Địa chỉ email:
Chấp nhận

 
Danh Nhân Họ Đặng 
Hoàng giáp ĐẶNG VĂN THỤY (1858-1936)
Thứ sáu, 11.13.2009, 12:40pm (GMT)

Đặng Văn Thụy là một bậc túc nho nổi tiếng xứ Nghệ. Thời gian ở Tu thư cục, ông đã từng tham gia biên soạn nhiều bộ sách như Quốc triều sử toát yếu, Quốc triều luật lệ toát yếu và dịch sách Trung Quốc ra tiếng Việt, chủ yếu là các tân thư. Lúc về nghỉ hưu, ông có một số trước tác riêng đặc sắc bằng chữ Hán và chữ Nôm như Nho lão cuồng ngâm, Mộng Long tuyết mộng sử, Mã sơn văn thảo, Quốc tử giám tư hương ca, Khuyến nông ca, Nữ học diễn ca, Gia huấn ca, Khuyến tân học thuyết, Ca văn thi phú thư truyện tạp biên. Đáng tiếc là bạn đọc còn biết quá ít về ông. Bài viết này xin cung cấp thêm một số tư liệu.

1. Đôi nét về quê hương, gia đình, gia tộc

Đặng Văn Thụy (1858-1936) lúc nhỏ tên là Đặng Văn Tụy, tự Mã Phong, hiệu Mộng Long, tên thường gọi trong dân gian là cụ Hoàng Nho Lâm. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo ở làng Nho Lâm, tổng Cao Xá, phủ Diễn Châu, nay là xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Ông nội của Đặng Văn Thụy là thợ rèn. Thân phụ - Đặng Quang Bỉnh - là thầy đồ, từng đỗ tú tài năm 1878.

Nho Lâm quê ông là một làng văn vật: “Sinh đồ, tú tài nhiều như đất vồng cày. Dưới thời Hậu Lê, Nho Lâm có 13 hương cống, 244 sinh đồ... Sang thời Nguyễn có 1 hoàng giáp, 2 phó bảng, 10 cử nhân, 33 tú tài. Về Tây học, nếu kể từ tú tài trở lên, có đến gần hai chục người trong đó có cử nhân, đốc tờ (bác sĩ)” (1). Làng Nho Lâm cùng với làng Lý Trai (nay là xã Diễn Kỷ, Diễn Châu) - thời Nguyễn có 4 tiến sĩ, 8 cử nhân - là 2 làng khoa bảng nổi tiếng nhất Diễn Châu thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.

Mặc dù đỗ đại khoa, làm quan to (hàm Chánh tứ phẩm), danh tiếng lẫy lừng, nhưng Đặng Văn Thụy chỉ có một bà vợ là Cao Thị Bích - con gái đầu lòng Đông các Đại học sĩ Cao Xuân Dục (1842-1923). Thực ra, được sự khuyến khích của vợ, cũng đã có lúc ông muốn cưới thêm bà em vợ Cao Thị Hoà, bút danh Ngọc Anh (1878-1970). Đây là một phụ nữ giỏi thơ phú, đẹp người, đẹp nết, goá chồng khi mới 26 tuổi. Ngọc Anh đã gửi anh rể bài thơ Nôm từ chối dí dỏm: Anh Tế nhà ta khéo ỡm ờ/ Phong tình quen thói lại lơ mơ/ Rượu ngon uống hết không chừa cặn/ Mít ngọt quen mùi đánh cả xơ/ Duyên chị trước đà xe chỉ thắm/ Tình em nay muốn chắp dây tơ/ Cho hay quân tử là thê thế/ Chị cũng ưa mà em cũng ưa (2). Từ đó không thấy nói Đặng Văn Thụy muốn cưới bà vợ thiếp nào nữa.

Đặng Văn Thụy có 11 người con, 7 trai, 4 gái, trong đó có 2 người con trai đậu đại khoa là Đặng Văn Oánh và Đặng Văn Hướng. Đặng Văn Oánh (1885-1953) đậu cử nhân năm 1912, đậu phó bảng năm 1919, từng giữ chức Giáo thụ phủ An Nhân. Đặng Văn Hướng (1887-1954) đậu cử nhân năm 1906, đậu phó bảng cùng khoa với anh ruột năm 1919, từng giữ các chức vụ Giáo thụ phủ Diễn Châu, Tham tri bộ Hình rồi Tổng đốc Nghệ An thời chính phủ Trần Trọng Kim. Sau cách mạng, ông tham gia Chính phủ Hồ Chí Minh, giữ chức vụ Bộ trưởng không bộ, đặc trách công tác ở 3 tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh. Một người con trai của Đặng Văn Hướng là Đặng Văn Việt (sinh năm 1920) sớm giác ngộ cách mạng, hoạt động bí mật từ năm 1943, cùng bạn chiến đấu Cao Pha treo cờ cách mạng trước cửa Ngọ Môn cố đô Huế (ngày 17/8/1945). Cuộc đời binh nghiệp của Đặng Văn Việt bắt đầu từ sau khi Nhật đảo chính Pháp 9/3/1945. Ông từng là Trung đoàn trưởng đầu tiên của Trung đoàn 174 (1 trong 2 trung đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam do Chu Huy Mân làm Chính uỷ). Với chiến công trong Chiến dịch biên giới năm 1950, Đặng Văn Việt được mệnh danh là “con hùm xám đường số 4”. Ông về hưu với chức vụ Cục phó Cục xây dựng cơ bản thuộc ngành Thuỷ sản. Năm 1985, ông cho xuất bản cuốn hồi ký Đường số 4 rực lửa được độc giả trong và ngoài nước nồng nhiệt đón nhận, được Bộ Văn hoá - Thông tin trao giải thưởng toàn quốc hạng A vào năm 1998 (3).

Một người cháu nội khác của Đặng Văn Thụy cũng khá nổi tiếng là GS Bác sĩ Đặng Văn Ấn (con bác sĩ Đặng Văn Dzư), từng là lính Sư đoàn 304, về sau là Chủ nhiệm quân y sư đoàn, Chủ tịch Hội Điện quang Việt Nam.

2. Một vị quan có nhân cách

Từ nhỏ Đặng Văn Thụy học với thân phụ, sau đó học với thầy Cao Trọng Sính - một  thầy đồ nổi tiếng người cùng làng, từng giữ chức Tư nghiệp Quốc tử giám, sau thăng Án sát sứ. Đặng Văn Thụy nổi tiếng thông minh, 16 tuổi thi Hạch đỗ đầu xứ. Tiếp đó, ông theo học Thám hoa Nguyễn Đức Đạt (1823-1887), được thầy đánh giá là một trong bốn người giỏi nhất Nghệ An, nhiều bài văn của ông được thầy tuyển chọn đưa vào các bộ sách Nam Sơn song khoá phú tuyển, Nam Sơn song khoá chế nghĩa để dùng trong việc dạy học. Năm 1882, ông thi đỗ cử nhân, rồi được bổ làm Huấn đạo huyện Nông Cống (Thanh Hoá) khi mới 24 tuổi, ít lâu sau được thăng Giáo thụ phủ Diễn Châu (Nghệ An). Vừa làm học quan, vừa tiếp tục dùi mài kinh sử nên đến năm 1904, ông đỗ Đình nguyên Hoàng giáp, được điều về Kinh giữ chức Tư nghiệp Quốc tử giám, sung Tu thư cục. Năm 1908 ông được thăng Tế tửu Quốc tử giám.

Hoạn lộ rộng mở, được rèn cặp thế hệ trẻ là niềm vui của vị học quan chân chính. Nhưng thời buổi nhiễu nhương, vua chỉ là bù nhìn cho chính quyền ngoại bang. Đặng Văn Thụy không đủ dũng khí đứng ở tuyến đầu chống Pháp như vị Tiến sĩ đồng hương Diễn Châu - tiền bối Nguyễn Xuân Ôn (1825-1889) và vị Tiến sĩ đồng khoa Trần Quý Cáp (1870-1907) nhưng khi hay tin Trần Quý Cáp bị xử trảm, ông đã ngậm ngùi khóc bạn:

Do lai thủ sự kỷ thành công/ Tích tỷ Khang Lương ngô cảnh cùng/ Nhật báo vạn ngôn đăng chúng thính/ Thời nan tứ sớ động thần thông... (Văn niên hữu một).

Dịch nghĩa: Xưa nay những người khởi xướng mấy kẻ thành công/ So sánh với cảnh khốn cùng của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu thì cũng chẳng kém gì/ Hàng vạn lời đăng trên báo, quần chúng đã từng được nghe/ Gặp lúc vận nước khó khăn, bốn sớ dâng lên được thánh thần biết đến... (Nghe tin bạn đồng niên mất) (4).

Một người bạn đồng khoa khác của Đặng Văn Thụy là Tiến sĩ Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) cũng bị đày đi Côn Đảo. Nhìn về quê nhà, Giải nguyên Phan Bội Châu đang bôn ba hoạt động cứu nước ở hải ngoại, Phó bảng Đặng Nguyên Cẩn bị tù đày..., nhiều lúc ông tự hổ thẹn và ngán ngẩm cho quan tước của mình: Thế sự bàu nhàu/ Ngẫm xem thế sự quá bàu nhàu/ Luẩn quẩn trong vòng trói buộc nhau/ Hai chữ văn chương gà cục tác/ Một đàn danh lợi cá hau hau (5).

Năm 1914, Đặng Văn Thụy viết sớ xin từ quan về quê. Được vua chuẩn y, ông vui mừng viết ngay bài thơ Biệt đình quan gửi người bạn tri kỷ đang bị tù đày là chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng: ...Quốc ân vị mẫu văn chương báo/ Gia kế nan ngôn bổng hướng tân/ Tự tiếu quy lai vô sự thậm/ Vị vong thả tác bất vong nhân (Ân nước không lấy văn chương báo đáp được/ Nghèo khó bổng lộc đâu để mà đãi khách/ Nay về nhà tự cười rằng rồi sẽ chẳng có việc làm/ Nhưng ai không quên ta khi đang làm việc, ta cũng không quên người) (6).

Khi đương chức Tế tửu, ông đã không ngần ngại mỉa mai vị Phụ chính đại thần Tôn Thất Hân (7). Lúc từ quan, ông lại châm biếm Tổng đốc Nghệ An Tôn Thất Đàn - một ông quan quỷ quyệt, độc ác - qua bài thơ đọc cho vị này nghe trong buổi tiếp ông ta tại nhà mình: ...Vênh váo vểnh lên chòm râu bạc/ Phung phây ngó xuống cái bụng phề/ Bẻm mép đã quen mồm lắc lé/ Chớ nhòm khoai lúa có người đe (8). Tuy nhiên, “một điều trái khoáy đối với ông là triều đình mà ông đã từ giã thì sau con cháu của ông học hành đỗ đạt lại trở thành quan của Chính phủ Nam triều, quan của Chính phủ Bảo hộ...”(9). Nhân dịp mừng thọ ông 70 tuổi, đã có một đôi câu đối đả kích sâu cay:

Trên nhà cao, ông lão làm xằng. Nào rượu, nào chè, nào đàn ngọt hát hay, muôn kiếp dã man bày trước mặt.

Dưới tiệc yến, những ai đó tá? Ấy huyện, ấy thừa, ấy đốc tờ ấm tử, một đàn nô lệ đứng chen vai.

Điều đáng quý là ông vẫn cho dán câu đối này ngoài rạp với lời căn dặn con cháu: “Miệng thế mình làm sao mà bịt được? Thà để cho người ta đọc, suy nghĩ như thế nào do thiên hạ” (10). Trong lúc đó bức hoành phi sơn son thếp vàng chạm trổ tinh xảo do học trò nhiều thế hệ kính mừng đề 4 chữ “Tứ hải uyên nguyên” (Nguồn học sâu bốn biển) ca ngợi ông hết lời thì ông chỉ cho treo ở phòng riêng của mình (11). Có lẽ ông không thích phô trương, nhất là trong thời buổi sở học của ông cơ hồ đã không còn ích gì cho dân, cho nước.

 Là một vị đại quan nhưng khi về hưu, Đặng Văn Thụy vẫn giữ nếp sống giản dị, ăn uống đạm bạc, ăn khoai lang đựng trong rổ và ăn cả vỏ (theo Giai thoại Hoàng giáp ăn khoai). Hàng ngày ông niềm nở với người già, ân cần với trẻ nhỏ, cảm thông với những người tá điền. Ông đã khuyên vợ một cách chí lý rằng: “Tá điền phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt mới có được hạt lúa. Nay rẽ tô, muốn rẽ ít thì đó cũng là lẽ tự nhiên. Kẻ đáng trách là người đi coi rẽ. Họ mới là ong nuôi tay áo đấy bà ạ” (12). Những mẩu chuyện Cụ Hoàng Nho Lâm thỉnh thoảng vác cuốc thăm đồng, cuốc bộ đi thăm con cháu làm quan và làm công chức ở các nơi trong, ngoài tỉnh để giúp chúng giữ đạo đức, gia phong vẫn được truyền tụng từ thế hệ này qua thế hệ khác ở xứ Nghệ, khiến nhân dân quê hương rất cảm tình với vị Đình nguyên đức độ khả kính. Gia phả họ Cao Xuân ở Thịnh Mỹ ghi về ông con rể Đặng Văn Thụy rằng: “lúc nhỏ được coi là thần đồng, về già được coi là thần sống”. Được tin ông mất, Phan Bội Châu đã có câu đối viếng:

Lục bào hoàng bảng dĩ yên tai, vãng sự hưu đề, thán tức triết nhân vong, như thỉ đạo thành tam đại cổ;

Ngân biển tất xa vinh dã phủ, khách triều chính trướng, thê lương di trạch tại, mãn doanh kim thượng nhất kinh tân.

(Nguyễn Nghĩa Nguyên dịch: Áo xanh bảng vàng qua rồi sao? Chuyện cũ đừng nhắc lại! Thương tiếc nhà hiền triết mất đi, thời gian tên bắn, mới đó mà đã thành người tam đại;

Biển bạc xe son thú chăng nhỉ? Nước triều đang dâng mạnh, đau buồn công đức để lại: kho đầy vàng, còn sách mới một pho (13)).

Cụ Phan thương xót nhà hiền triết tài cao và có ý tiếc vì cụ Hoàng để lại tác phẩm hay ít quá chăng? Còn nhà chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng thì ca ngợi:

Đương niên đồng thí Đường cung, nhất khúc nghê thường, thiên thượng chúng tiên suy tuyệt xướng;

Tha nhật hậu thông Chu đạo, tam trùng trữ dịch, quốc trung hoàng cẩu thiểu tư nhân.

(Nguyễn Nghĩa Nguyên dịch: Đường cung thuở ấy cùng thi, một khúc nghê thường, tiên nữ trên trời suy tôn tuyệt xướng;

Chu đạo ngày nào thông hảo, ba tầng trạm dịch, người già trong nước ít kẻ bằng ông (14))./.

   

Chú thích

(1), (2), (4), (5), (6), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14) Nguyễn Nghĩa Nguyên (1997), Cụ Hoàng Nho Lâm, Nxb Văn hoá thông tin, Tr.6, 13, 34, 40, 43, 75, 82, 83, 84, 137, 138, 140, 144, 145.

(3) Theo Lê Thành: Người lính già với những ngày thăm nước Mỹ, Báo Khoa học & phát triển, số ra ngày 16/2/2007 và các trang liên kết ngoài trên trang web Đặng Văn Thụy Wikipedia tiếng Việt.

(7) Xin xem giai thoại Bài thơ còn bỏ dở trong sách Cụ Hoàng Nho Lâm, Nguyễn Nghĩa Nguyên, Tldd, Tr.33.

                                        

Hồ Sĩ Huỳ

Tin khác:
. ĐÔ ĐỐC ĐẶNG TIẾN ĐÔNG (11.13.2009)
. Giáo sư - tiến sĩ Đặng Đình Áng: Trong ngần bóng gương (11.09.2009)
. Ông Đặng Kim Giang (11.07.2009)
. Văn Minh Đại học sỹ Đại thần ĐẶNG VĂN HÒA (1791 - 1856) (11.05.2009)
. Thị độc nội các ĐẶNG HỮU PHỔ (1854 - 1885) (11.05.2009)
. Viên ngoại lang ĐẶNG HUY TÁ (1817 - 1872) (11.05.2009)
. Võ tướng Tây Sơn Đặng Xuân Phong (10.31.2009)
. Đặng Thúc Hứa (1870-1931) (10.29.2009)
. Đạo diễn Đặng Nhật Minh (10.27.2009)
. Đặng Văn Ngữ (4.4.1910 - 1.4.1967 ) (10.27.2009)



 
Sự kiện
CN Hai Ba Năm Sáu Bảy
          1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31            
December 2017

Quảng cáo

Tin nóng
ĐẶNG DUNG (鄧容),
Giáo sư Đặng Thị Hồng Vân
GIỚI THIỆU NHÂN VẬT LỊCH SỬ
Vĩnh An - Nhạc sĩ của những miền quê
Liệt sĩ Đặng Văn Cân - Người anh hùng dân tộc
Đặng Thị Kim: Nữ anh hùng tuổi 19
Bừng sáng giấc mơ của “chàng hiệp sĩ”
Gửi bà con họ Đặng có gốc ở làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định
GS ĐẶNG VĂN CHUNG: NGƯỜI THẦY CỦA NHIỀU THẾ HỆ BÁC SĨ NỘI KHOA
Hoàng giáp ĐẶNG VĂN THỤY (1858-1936)

|| Trang chủ || Diễn đàn || Tông đồ || Lời hoài niệm tâm linh ||
 

Bản quyền thuộc BLL toàn quốc họ Đặng Việt Nam.
Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Đặng Văn Thảo
Địa chỉ: 60/41 phố Thái Hà - Q.Đống Đa -Hà Nội
Điện thoại: 0913.281.821 - 043.9903379 -Fax: 043.572.090
Email: dangvanthaohn@gmail.com
® Ghi rõ nguồn "dangtocvietnam.com" khi bạn phát hành lại thông tin website này.

 

Lượt truy cập

BLLTQ họ Đặng Việt Nam